Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Khi nào cần điều trị viêm gan B

Trong số các bệnh về viêm gan thì viêm gan B để lại hậu quả nghiêm trọng và được quan tâm nhiều do tình trạng phổ biến của bệnh. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Vấn đề điều trị là kháng virus và ngăn ngừa tổn thương gan.

Viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm do HBV (Hepatitis B virus) gây nên. Điều đáng nói là có khoảng 30% bệnh nhân viêm gan B không hề có bất cứ một dấu hiệu hoặc triệu chứng nào đáng kể cho đến khi bệnh nặng. Một số dấu hiệu thường gặp đó là vàng da, vàng mắt, đau tức nặng hạ sườn phải, rối loạn tiêu hoá, buồn nôn, nôn, nước tiểu vàng, mệt mỏi, đau mỏi cơ khớp... Để chẩn đoán xác định bệnh người ta thường sử dụng một trong các kỹ thuật cũng như các xét nghiệm đặc hiệu.

Mục đích điều trị viêm gan B mạn tính là làm sạch virus, cải thiện quá trình viêm và hoại tử ở gan. Tuy nhiên để điều trị viêm gan B mạn tính có kết quả và thành công là một vấn đề hết sức nan giải. Hơn nữa, cho đến hiện nay, còn rất nhiều bệnh nhân, thậm chí cả một số thầy thuốc không phải chuyên khoa vẫn chưa hiểu rõ khi nào thì cần chỉ định điều trị viêm gan B mạn tính.

Các thuốc điều trị viêm gan B - Ảnh 1.

Virus gây viêm gan B.

1. Các thuốc nào được sử dụng điều trị viêm gan B?

Với sự tiến bộ của công nghệ sinh học và công nghiệp dược, có khá nhiều thuốc được đưa vào sử dụng điều trị viêm gan B mạn tính tiến triển, các thuốc này đã góp phần rất quan trọng trong việc hạn chế tối đa các biến chứng do nhiễm HBV mạn tính gây ra. Hiện nay, các thuốc điều trị viêm gan B được phê duyệt điều trị viêm gan B trên toàn cầu bao gồm:

Interferon

Là các protein được sản xuất tự nhiên với các hoạt động chống virus, chống ung thư và điều hòa miễn dịch. Interferon có hai loại alpha và beta. Trong đó Interferon alpha là thuốc sử dụng khá rộng rãi trong điều trị viêm gan B. Tuy nhiên, tác dụng kháng virus này là không đặc hiệu và hiệu quả tác dụng cũng còn hạn chế.

Lamivudin

Là loại thuốc được sử dụng điều trị viêm gan B mạn tính từ lâu, giúp ngăn chặn sự nhân lên của virus bằng cách ức chế cạnh tranh của enzyme sao chép ngược virus, cải thiện tình trạng viêm hoại tử tế bào gan, giảm tiến triển đến xơ gan, bình thường hóa men ALT.

Hiện nay có nhiều loại thuốc mới được chứng minh là vượt trội hơn lamivudine trong việc ức chế sự nhân lên của virus. Hơn nữa do tỉ lệ kháng thuốc tỷ lệ thuận với thời gian dùng thuốc và khả năng tái phát sau khi dùng thuốc là khá cao, nên vai trò của lamivudine trong điều trị viêm gan B đang giảm dần khi các liệu pháp thay thế khác xuất hiện.

Adeforvir

Cũng là thuốc được sử dụng điều trị viêm gan B mạn tính tại nhiều nước trên thế giới đã lâu. Thuốc có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus. Thuốc ức chế DNA polymerase của virus viêm gan B bằng cách cạnh tranh với chất nền tự nhiên deoxyadenosine triphosphate và gây ra sự chấm dứt chuỗi DNA sau khi kết hợp với DNA virus.

Tuy thuốc ít tác dụng phụ nhưng cũng là lựa chọn thứ 2 trong điều trị. Tỷ lệ kháng thuốc của adeforvir ngày càng cao và có những cơn bùng phát viêm gan cấp nặng trên bệnh nhân ngừng thuốc. Trong thời gian dùng thuốc, bệnh nhân cần được theo dõi chức năng gan/thận định kỳ.

Các thuốc điều trị viêm gan B - Ảnh 3.

Khi điều trị viêm gan B, bệnh nhân cần được định kỳ kiểm tra sức khỏe, xét nghiệm máu.

Telbivudine

Được cân nhắc dùng cho những bệnh nhân không đáp ứng với interferon hoặc không thể dung nạp interferon. Tình trạng kháng thuốc là một nhược điểm lớn của thuốc này.

Tenofovir

Là thuốc được lựa chọn đầu tay cho người bị viêm gan B mạn tính với tính kháng thuốc rất thấp và ít tác dụng phụ.

Entecavir

Là loại thuốc điều trị viêm gan B mạn tính bằng cách giảm số lượng virus, giảm nguy cơ xơ gan và ung thư gan. Thuốc cũng được lựa chọn đầu tay điều trị cho người lớn có bằng chứng virus đang sao chép hoặc bị tăng dai dẳng các aminotranserase huyết thanh (ALT hoặc AST), hay bệnh đang hoạt động về phương diện mô học.

Thuốc uống mỗi ngày 1 lần ít nhất trong 1 năm và tương đối ít tác dụng phụ. Entecavir ít hiệu quả đối với bệnh nhân nhiễm HBV kháng lamivudine.

Các thuốc trên đây không thể chữa trị được dứt điểm bệnh viêm gan B đã mắc mà chỉ có vai trò ngăn chặn và hoặc tái tạo một phần, giảm thiểu sự phá hoại của virus cải thiện các triệu chứng bệnh lý mà thôi.

2. Khi nào thì dừng thuốc?

Khi đã được kê đơn điều trị bằng các thuốc trên, bệnh nhân cần tuân thủ triệt để quy trình do bác sĩ đề ra. Không tự ý dừng thuốc hay đổi thuốc sẽ dẫn đến kháng thuốc, thậm chí là xảy ra tình trạng suy gan cấp dễ ảnh hưởng đến tính mạng.

Thời gian điều trị bằng các thuốc trên được xác dựa trên các cơ sở sau khi làm các xét nghiệm hoặc bác sĩ thấy có sự bất lợi khi dùng thuốc thì sẽ quyết định việc ngừng thuốc hay thay thế bằng thuốc khác.

3. Phòng bệnh viêm gan B bằng cách nào?

Tiêm vaccine là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng ngừa bệnh viêm gan B.

Đối với trẻ em sinh ra từ các bà mẹ có HBsAg +, cần phải tiêm HBIG (Hepatitis B immune globulin) và tiêm càng sớm càng tốt, đặc biệt hiệu quả trong vòng 12 giờ sau khi sinh. Bên cạnh biện pháp phòng ngừa bằng vaccine, mọi người cần chú ý với đường lây truyền của bệnh đó là đường máu, đường kim tiêm và cần có các biện pháp tình dục an toàn...

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Viêm gan B - Những điều cần biết để sống khỏe mạnh.

Theo sức khỏe đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 04/12/2025

    Loãng xương ở phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh

    Loãng xương là tình trạng suy giảm nghiêm trọng lượng khoáng chất trong xương, làm thay đổi cấu trúc và giảm độ chắc khỏe của xương. Trong đó, phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh là nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất mắc bệnh, dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường đối với sức khỏe. Hãy cùng tìm hiểu kỹ hơn về loãng xương ở phụ nữ mãn kinh nhé!

  • 04/12/2025

    Ai không nên ăn thịt lợn nọng?

    Thịt lợn nọng ngon nhưng do hàm lượng chất béo bão hòa cao, một số nhóm người nên đặc biệt hạn chế tiêu thụ thịt nọng.

  • 04/12/2025

    Sự thật về tóc bạc

    Nang tóc của bạn có các tế bào sắc tố tạo ra melanin, một chất hóa học tạo nên màu tóc của bạn. Khi bạn già đi, các tế bào này bắt đầu chết. Không có sắc tố, các sợi tóc mới mọc ra nhạt hơn và có nhiều sắc thái khác nhau của màu xám, bạc và cuối cùng là màu trắng. Khi nang tóc ngừng tạo ra melanin, nó sẽ không tạo ra các sợi tóc màu nữa.

  • 03/12/2025

    Có nên dùng ‘đường ăn kiêng’ để giảm cân?

    Việc sử dụng 'đường ăn kiêng' để giảm cân đang là một xu hướng phổ biến nhưng nó vẫn còn là một chủ đề gây nhiều tranh cãi. Vậy đường ăn kiêng có tác dụng gì và có an toàn để giảm cân không?

  • 03/12/2025

    Viêm xoang trong mùa đông

    Vào những tháng cuối năm thời tiết chuyển lạnh, nhiệt độ giảm kèm theo những cơn mưa là cả một thách thức với hệ hô hấp, khó chịu với mũi và xoang. Sự kết hợp giữa không khí khô và thay đổi nhiệt độ này ảnh hưởng đến hoạt động bài tiết chất nhầy của mũi và xoang để bảo vệ hệ hô hấp và lọc không khí; có thể dẫn đến các dấu hiệu nghẹt mũi, áp lực và khó chịu. Hiểu được tác động theo mùa này đối với sức khỏe xoang giúp giải thích tại sao nhiều người gặp phải các vấn đề liên quan đến xoang nhiều hơn trong những tháng mùa đông và chỉ ra những cách chúng ta có thể bảo vệ hệ hô hấp tốt hơn trong mùa lạnh.

  • 02/12/2025

    Eswatini – Quốc gia đầu tiên trên thế giới triển khai mũi tiêm phòng HIV hai lần mỗi năm

    Eswatini hiện đang là đất nước có tỉ lệ nhiễm HIV cao nhất thế giới. Eswatini từ lâu đã phải đối mặt với gánh nặng HIV cực kỳ lớn. Khoảng 27% người trưởng thành của quốc gia này sống chung với HIV – mức cao nhất thế giới. Dù đã đạt nhiều tiến bộ trong điều trị antiretroviral (ARV), số ca nhiễm HIV mới vẫn duy trì ở mức đáng lo ngại, đặc biệt trong nhóm phụ nữ trẻ và thanh niên.

  • 02/12/2025

    4 lợi ích nổi bật nhất của rau càng cua với sức khỏe

    Tuy chỉ là một loại rau dại mọc phổ biến nhưng rau càng cua chứa đựng những giá trị dinh dưỡng và dược liệu đáng kinh ngạc, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người.

  • 02/12/2025

    Các dấu hiệu nhận biết đột quỵ vào mùa đông

    Thời tiết lạnh có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ do một số yếu tố thuận lợi, bao gồm co mạch máu, tăng huyết áp và tăng độ nhớt của máu. Khi nhiệt độ giảm, cơ thể cố gắng giữ nhiệt bằng cách co các mạch máu, làm tăng huyết áp và có thể dẫn đến hình thành cục máu đông. Những người có nguy cơ cao bao gồm người cao tuổi, người mắc bệnh tim mạch, huyết áp cao, tiểu đường, và những người có lối sống ít vận động.

Xem thêm