Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Khám phá bí mật bộ máy sinh sản của phụ nữ

Màng trinh bị rách có phải người phụ nữ đó không còn trinh trắng? Tử cung có tính siêu đàn hồi như thế nào? Có hay không điểm G?... là những điều bạn chưa biết về hệ thống sinh sản của phụ nữ...

Tử cung có tính siêu đàn hồi

Tử cung được xem là bộ phận có mức đàn hồi lớn nhất trong cơ thể nữ giới. Khi không trong quá trình mang thai, tử cung chỉ là bộ phận nhỏ có kích thước khoảng 3 inch tương đương 7,5 cm và rộng 2 inch tương đương 5 cm.

Nhưng ở khoảng 20 tuần mang thai, tử cung mở rộng đến tất cả mọi phía và đến tuần thứ 36, tử cung sẽ mở rộng gần chạm xương sườn. Sau khi sinh, nhiều sản phụ chịu đau đớn kéo dài vài ngày do các cơn co tử cung nhưng một số người lại không xuất hiện tình trạng này.

Âm đạo có độ PH cao

Độ pH của âm đạo có tính axit, vị chua, trung bình khoảng  4,5 pH ( trong đó pH 7 là trung tính). Tương đương với độ chua có trong bia hay quả cà chua.

Tính axit giúp duy trì vi khuẩn có lợi như lactobacillus – do nhóm vi khuẩn axit lactic sản xuất, chi phối môi trường trong âm đạo – giúp kháng viêm nhiễm nấm và kháng khuẩn gây hại. Nếu độ pH mất cân bằng dễ dẫn đến nhiều bệnh nan y, thậm chí gây vô sinh, ung thư.

Màng trinh và sự trinh tiết

Màng trinh luôn là quan niệm về sự trong trắng, tinh khiết của người con gái. Nhưng theo các nhà khoa học, màng trinh thực sự chỉ là màng vô cùng nhỏ và mỏng ở cửa âm đạo.

Nó có thể bị rách khi quan hệ tình dục lần đầu tiên hoặc do tai nạn khi âm đạo bị va đập vào vật cứng. Như vậy, việc màng trinh bị rách không có nghĩa là người con gái đã mất đi sự trinh trắng. Ngoài ra, cứ 2000 cô  gái được sinh ra thì có 1 người có màng trinh bịt kín âm đạo nghĩa là không có lỗ mô để kinh nguyện xả ra ngoài. Do đó, phải tiến hành tiểu phẫu nhỏ để rạch lỗ khắc phục tình trạng trên.

Điểm G có hay không?

Người ta vẫn quan niệm truyền miệng rằng điểm G là vị trí đặc biệt trên cơ thể người phụ nữ là tác động mạnh mẽ lên ham muốn tình dục. Trong giới chuyên môn, có người cho rằng có điểm G, có người cho rằng không có. Trong các tài liệu giáo khoa, sách giải phẫu đều không nói đến điểm G. Điểm G thực ra được đặt theo chữ cái đầu của Graefenberg (tên của bác sỹ người Đức Ernest Graefenberg).

Từ những năm 1940, bác sỹ Graefenberg đã cho rằng điểm G là một vùng nhỏ nằm khoảng giữa lỗ âm đạo và cổ tử cung bên trong ở trước âm đạo. Trên thực tế, một số phụ nữ thấy hưng phấn khi điểm G được kích thích, số khác thì không có cảm giác gì, thậm chí có người còn thấy khó chịu.

Tử cung đôi

Thông thường, mỗi phụ nữ sẽ có 1 tử cung, 2 vòi trứng, 2 buồng trứng và 1 đường âm đạo. Tuy nhiên, ở một số trường hợp hiếm, có thể có đến 2 tử cung. Tỷ lệ này cực hiếm, hàng triệu người mới có 1 người. Một số trường hợp chỉ có 2 buồng tử cung là riêng biệt còn vòi trứng, buồng trứng, âm đạo, cổ tử cung chung nhau.

Tuy nhiên cũng có những trường hợp các tử cung riêng biệt gần như trọn bộ với 2 buồng tử cung, 2 vòi trứng, 2 buồng trứng, 2 âm đạo và  cổ tử cung. Thường những người có tử cung đôi, kích thước tử cung sẽ nhỏ hơn bình thường.

Cơ thể phụ nữ luôn thay đổi

Cơ thể phụ nữ chịu ảnh hưởng lớn bởi chu kỳ kinh nguyệt, nồng độ hoc môn trong cơ thể và trong não bộ bị thay đổi trong thời kỳ kinh nguyệt khiến thân hình, năng lượng và tâm trạng thay đổi theo. Khoảng 10 ngày sau khi rụng trứng, người phụ nữ thường cảm thấy cơ thể tươi tắn, khỏe mạnh nhờ vào nồng độ estrogen và testostone trở về trạng thái cân bằng.

Khó xác định thời điểm mang thai chính xác

Nhiều sản phụ không biết chính xác mình mang thai lúc nào và hầu hết đều được coi là có thai trước thời điểm thụ thai. Các bác sỹ thường xác định thời điểm có thai bắt đầu từ ngày đầu tiên của chu kỳ kinh cuối vì đa số phụ nữ không chắc chắn ngày họ thụ thai nhưng có thể nhớ chu kỳ kinh gần nhất.

Minh Huệ - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 23/10/2026

    Tăng huyết áp có nên ăn cá ngừ?

    Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.

  • 22/10/2026

    5 cách loại bỏ vi nhựa khỏi cơ thể bạn

    Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.

  • 22/10/2026

    Xây dựng thói quen chăm sóc bản thân cho người bệnh Crohn

    Bệnh Crohn không chỉ gây ra những triệu chứng khó chịu về thể chất như đau bụng, tiêu chảy, mệt mỏi mà còn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của người bệnh. Xây dựng một thói quen chăm sóc bản thân phù hợp chính là cách để sống chung với bệnh nhẹ nhàng hơn.

  • 21/10/2026

    Chỉ số HbA1c ở mức nào là nguy hiểm?

    HbA1c là chỉ số phản ánh mức đường huyết trung bình trong khoảng 3 tháng gần nhất, được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán và theo dõi bệnh đái tháo đường.

  • 21/10/2026

    Vận động thông minh cho người bận rộn

    Dù bận rộn trong nhịp sống hiện đại, phụ nữ hoàn toàn không cần phải dành hàng giờ tại phòng gym để duy trì vóc dáng. Giải pháp vận động thông minh chú trọng vào chất lượng bài tập sẽ mang lại hiệu quả vượt trội cả về thể chất lẫn tinh thần.

  • 20/10/2026

    Những thứ bạn không ngờ có thể gây dị ứng

    Việc tìm ra nguyên nhân gây dị ứng đôi khi khá khó khăn. "Thủ phạm" mà bạn thường nghĩ đến chẳng hạn như phấn hoa, bụi hoặc thú cưng có thể không phải là nguyên nhân, trong một số trường hợp, nguyên nhân lại là những tác nhân mà bạn không bao giờ ngờ tới. Bài viết dưới đây chia sẻ về những dạng dị ứng hiếm gặp và cách để1 giúp bệnh nhân kiểm soát chúng.

  • 20/10/2026

    Hiểu đúng về cholesterol

    Từ lâu, cholesterol trong thực phẩm như trứng, tôm bị coi là "thủ phạm" hàng đầu gây tăng cholesterol máu.

  • 19/10/2026

    Đo chức năng hô hấp (Spirometry): phương pháp đơn giản giúp phát hiện sớm tổn thương phổi

    Đo chức năng hô hấp bằng máy đo (Spirometry) là phương pháp thăm dò không xâm lấn, thực hiện nhanh chóng, dễ dàng chỉ trong 10-15 phút tại các cơ sở y tế. Phương pháp này có khả năng phát hiện chính xác các tổn thương tắc nghẽn đường thở từ sớm, trước khi người bệnh xuất hiện triệu chứng khó thở rõ rệt.

Xem thêm