Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Hướng Dẫn Sử Dụng Mỹ Phẩm An Toàn Khi Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ

Được xem là loài gần như đứng cuối trong chuỗi thức ăn tự nhiên, con người chúng ta không tránh khỏi nguy cơ lấy những kim loại nặng từ các động thực vật tích trữ qua con đường ăn uống. Hơn nữa, việc sử dụng các sản phẩm chăm sóc da hằng ngày từ dầu gội, kem dưỡng, mỹ phẩm đều có nguy cơ mang những chất có hại vào cơ thể. Quá dư thừa các chất này có nguy cơ gây ảnh hưởng sức khỏe lâu dài lên cả mẹ và bé, đặc biệt nếu đang trong trong quá trình nuôi con bú bằng sữa mẹ.

Hướng Dẫn Sử Dụng Mỹ Phẩm An Toàn Khi Nuôi Con Bằng Sữa Mẹ

Sức khỏe giai đoạn sơ sinh của trẻ là vô cùng quan trọng và là nền tảng cho quảng thời gian sau này của bé. Nuôi con bằng sữa mẹ là luôn được khuyên cho tất cả bà mẹ để cung cấp dưỡng chất tối ưu cho phát triển trong những năm đầu tiên. Tuy nhiên, việc dư thừa các kim loại cũng như những hóa chất không tốt cho sức khỏe của bé có thể tồn tại trong sữa mẹ do các kim loại nặng này thường trơ với các phản ứng sinh hóa, nên dễ tích trữ trong các loài động thực vật – thức ăn của chúng ta mỗi ngày.  Do đó, cách duy nhất là người mẹ cần thông thái trong việc tránh lựa chọn các thành phần không tốt để hạn chế thấp nhất sự dư thừa chất gây hại vào cơ thể.

Hướng dẫn này nhằm giúp chị em phụ nữ lựa chọn những sản phẩm chăm sóc da an toàn và hạn chế thấp nhất việc dư thừa các chất gây hại vào sữa mẹ cũng như tránh gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bé khi nuôi con bằng sữa mẹ.

KIỂM TRA KỸ THÀNH PHẦN CỦA SẢN PHẨM VÀ TRÁNH NHỮNG HỢP CHẤT SAU:
Paraben
Có những dạng khác nhau với nhiều tên gọi sau: butyl paraben, ethyl paraben, propyl paraben, isobutine paraben.
Thường được dùng trong mỹ phẩm để ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật và vi khuẩn. Tuy nhiên, theo báo cáo của GS. Philippa Darbre, ĐH Reading, Anh Quốc, Paraben nên tránh vì những nguy cơ liên quan đến ung thư vú do tính chất giống nội tiết tố nữ.
Methanal (Formaldehyde) Một loại chất bảo quản. Chất này sẽ gây kích ứng mắt, mũi, họng và hen suyễn.
Dầu khoáng
Liquidum paraffinum, dầu Paraffin, sáp Paraffin, Petrolatum
Hỗn hợp của hydrocarbon lỏng chiết xuất từ dầu mỏ. Có nguy cơ lớn những chất này chứa những PAH, tác nhân gây ung thư.
Chất hoạt động bề mặt
Sodium lauryl sunfat (SLS), natri sulfat natri (SLES), glycol propylen.
Là nguyên nhân dể gây kích ứng da và viêm da tiếp xúc. Trẻ sơ sinh khá nhạy cảm và có thể dễ bị kích ứng với những chất này có thể gây rối loạn chức năng hô hấp và tiêu hóa, do đó, chúng ta nên hạn chế hoặc tránh sử dụng những sản phẩm chứa những chất hoạt động bề mặt ở trên (Kim Ki Yeon, 2011).
Màu tổng hợp (Synthetic colorings)
Còn gọi là ‘màu nhân tạo’
Chúng có thể gây nhạy cảm với da và kích ứng da, đồng thời có hàm lượng cao các kim loại nặng như chì, thủy ngân và asen.
Nước hoa tổng hợp (Synthetic Fragrances) Đây là nguyên nhân thường gặp của viêm da tiếp xúc. Nó có thể gây kích ứng da do thành phần đa dạng của nước hoa. theo tài liệu báo cáo của FDA Mỹ, chất này có thể gây đau đầu, chóng mặt, phát ban dị ứng, sự đổi màu da, ho và nôn mửa, kích ứng da, thậm chí còn được chứng mình là gây ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thần kinh trung ương .
Ethanol Khi sử dụng cho da nhạy cảm, chất này có thể gây kích ứng da. Nếu tích trữ trong cơ thể sẽ khá nguy hiềm cho hoạt động ghi nhớ của não bộ, vì vậy cần tránh sử dụng. Với những bằng chứng hiện nay, ethanol cũng được khuyên nên tránh trong thành phần các sản phẩm thực phẩm chức năng dành cho nhi khoa.
Benzophenone
Gồm Benzophenone-3 (oxybenzo) và benzophenone-5 gây nên dị ứng.
Năm 1994 Harvell, J đã nghi ngờ đây là chất độc gây ảnh hưởng đến da và đã hạn chế sử dụng. Năm 2012, có một nghiên cứu đã chỉ ra rằng chất này còn có thể gây ra chứng nội mạc tử cung (Shin Jung-ee, 2012)
Acrylamide Là loại chất được cho là có khả năng gây ung thư trong các thí nghiệm trên động vật và được phân loại là gây ung thư (2A) tại Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC). Ngoài ra, Hiệp hội Ung thư vú Hoa Kỳ đã chỉ định chất này là chất kích thích phát sinh ung thư và bị nghi ngờ là nguyên nhân gây nên ung thư vú.
Phthalate
VD: Diethylhexyl (DEHP)

Xuất hiện trong nước hoa mỹ phẩm, làm móng, đồ chơi, chất tẩy rửa và các sản phẩm PVC khác, nhưng hiện nay nó được phân loại là hoóc môn môi trường và bị cấm sử dụng. Phthalates được hấp thụ qua da thâm nhập vào nội bộ cơ thể, gây nguy hiểm cho tất cả mọi người nhưng trong đó ảnh hưởng lớn nhất tới trẻ em và thai nhi do gây ảnh hưởng lên testosterone có thể khiến ức chế sản sinh tinh trùng và gây biến dạng trên cơ quan sinh dục.

 LÀM THẾ NÀO ĐỂ CHO EM BÉ CỦA BẠN CÓ MỘT NGUỒN SỮA MẸ AN TÒAN

Tránh tích tụ Phthalates

Tránh các loại mỹ phẩm và dầu gội có chứa phthalates và tránh ăn thức ăn được bọc, gói trong túi ny lông hay hộp nhựa, nếu được cũng nên tránh sử dụng ly giấy, đồ hộp và thực phẩm đóng hộp.

Tránh thức ăn có mức độ tích trữ nhiều kim loại nặng

Hãy ăn thịt của các loại động vật ăn thực vật hơn là các động vật ăn thịt.

Khi ăn cá cũng nên chọn các loại cá ăn thực vật và sinh vật phù du, có kích thước trung bình (tầm 2kg/con). Những loại cá ăn tạp và có kích thước lớn. Ví dụ như cá ngừ đại dương có nguy cơ tích trữ nhiều kim loại nặng hơn.

Sử Dụng Sữa & Các Chế Phẩm Từ Sữa An Toàn

Cũng tương tự như chất gây hại bị hoà tan có trong sữa mẹ, trong sữa và các sản phẩm sử dụng trực tiếp không qua thanh trùng hoặc không được quản lý chất lượng tốt cũng chứa rất nhiều các tạp chất và các chất có hại. Trứng cá, nội tạng cá, trứng và sữa v…v…tập trung nhiều các thành phần có hại hơn là thịt nạc, vì vậy hãy lựa chọn cẩn thận.

Hãy ăn thực phẩm nấu chín và chế biến vệ sinh

Tránh ăn các thực phẩm tái hoặc chưa nấu chín vì có thể nhiều vi khuẩn cũng như chất gây hại vẫn còn tồn tại trong thực phẩm đó và gây hại đến hệ tiêu hóa của trẻ. Giữ vệ sinh khi chế biến và không nên để lẫn lộn thực phẩm chín và sống trong tủ lạnh để tránh nhiễm khuẩn chéo.

Tập thể dục vừa phải nhưng không nhịn ăn quá mức

Tập thể dục đủ để thoát mồ hôi một chút là tốt vì chất độc hại được thải ra ngoài thông qua mồ hôi. Vào thời điểm này, nên uống nhiều nước và tập thở sẽ giúp việc đào thải các chất độc hại diễn ra tốt hơn. Tuy nhiên, nếu tập luyện quá độ hoặc thực hiện chế độ ăn nhằm giảm cân sẽ khiến các chất béo trong cơ thể bị phân hủy cùng một lúc làm cho nồng độ các chất có hại trong sữa mẹ bị đẩy lên cao hơn. Vì vậy,bạn có thể chọn bài tập thích hợp và tập 1 tiếng mỗi ngày, hãy ăn uống vừa phải để giảm cân tự nhiên nhé!

 
Nâng cao chất lượng bữa ăn.

Ăn đầy đủ chất đạm, vitamin và canxi theo liều lượng được khuyến cáo sẽ giúp cung cấp nguyên liệu đầy đủ cho cơ thể trong quá trình tạo sữa và ít bị lẫn các chất có hại hơn vì khi ăn uống đầy đủ đúng chất sẽ giúp không phá vỡ protein hoặc canxi trong cơ thể trong quá trình sản xuất sữa mẹ. Đừng quên rằng nếu bạn chỉ vì cảm thấy phiền hà trong việc nấu ăn mà sử dụng nhiều thực phẩm ăn liền hoặc thực phẩm chế biến sẵn, tất cả sẽ truyền qua sữa đến với em bé của bạn.

Khi chúng ta căng thẳng, stress sẽ khiến những độc tố vốn không có trong cơ thể chúng ta cũng xuất hiện. Vì vậy, nếu bạn luôn giữ tinh thần vui vẻ và thoải mái, nguồn sữa mẹ của bạn cũng sẽ khỏe mạnh hơn. Thêm vào đó, với tinh thần thoải mái, các hocmon hạnh phúc cũng sẽ giúp các bé bú mẹ giải phóng được độc tố ra khỏi cơ thể của bé.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Lợi ích, hiểu lầm và sự thật về nuôi con bằng sữa mẹ

YOUNG-EUN SIM RCN - Theo CNFZONE
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

Xem thêm