Năm 1792 Beer (Áo) là người Âu châu đầu tiên mô tả các biến dạng của mi mắt.
Năm 1818 Von Graefe lần đầu tiên đã dùng từ Blépharoplastie để tả kỹ thuật tạo hình sau khi cắt bỏ u ở mi mắt.
Vào khoảng năm 1830 Mac Kenzie, Alibert (1832) Graf (1836) và Dupuytren (1839) đã xuất bản nhiều tài liệu về việc dư da ở mi mắt.
Holtz năm 1899 đã dùng từ Blépharochalasie lần đầu tiên để mô tả trường hợp thoái hóa da mi mắt với các nếp nhăn, dãn rộng tĩnh mạch da, phình các tổ chức mở hốc mắt ra da và đôi khi phù nề quanh mắt ở một phụ nữ trẻ. Đặc tính giống nhau của các người cùng gia đình về bất thường này đã được Paneton ( 1936 ) chú ý tới.
Giải quyết phẫu thuật thẩm mỹ các túi mở ở mi mắt được sự góp phần của nhiều tác giả: MILLER ( 1908) , KOLLE ( 1911), BETTMAN (1928), JOSPEH (1928), KAHN (1934), BARSKY (1938), ARRUGA (1952), và các người khác như CASTAGNARÈS (1952). Ở Pháp có các tác giả như BOURGUET ( 1921-1929), NOEL (1926), PASSOT (1919), CLAOUE (1921) . Đặc biệt BOURGUET từ năm 1921 đã mô tả các túi mở ở mi mắt trên, đề xuất cách mổ lấy mỡ, ông cũng là người đầu tiên đề xuất cách mổ lấy mỡ ở mi dưới qua đường mổ xuyên kết mạc.
Phẫu thuật thẩm mỹ mi mắt của người Châu Á được thực hiện nhiều từ sau thế chiến thứ hai

Các kiểu mắt
1. Mắt nai: là loại mắt đẹp lý tưởng của phương Tây:
- Chân mày đều, đẹp
- Mi mắt trên xếp li cao 8 mm cách bờ mi
- Mi trên che phủ giác mạc độ 1-2mm
- Khoé mắt ngoài cao hơn trong một chút
- Bờ mi dưới thẳng và sát giác mạc.
2. Mắt cocker: Khóe ngoài mắt bị hạ thấp xuống hơn so với bên trong. Do đó mắt có vẻ buồn.
3. Mắt lồi thường được gọi là mắt lộ, do hốc xương hẹp, cơ mi mắt co thắt mạnh hay nhiều mỡ ở hốc mắt.
4. Mắt sâu.
5. Mắt nhỏ thường được gọi là mắt lươn ( Blépharophimosis )
6. Mắt của người Á châu
Mi mắt của người Châu Á có các đặc điểm:
- Mi trên xếp nhỏ, hay không xếp: thường gọi là mắt một mí.
- Góc ngoài mắt xếch lên trên .
- Dưới da mi trên có nhiều mỡ, làm da mi mắt sụp xuống.
- Lông mi hướng xuống dưới, thay vì cong lên trên.
Mắt người Âu Mỹ có cấu trúc đặc biệt, cơ nâng mi xuyên qua cơ vòng mắt đến sát dưới da, tạo thành nếp xếp mi trên. Ở người châu Á thiếu cấu trúc nầy mà thay bằng mỡ và mô liên kết lỏng lẻo. Sụn mi trên của người Á châu hẹp và mỏng hơn
Các loại phẫu thuật thẩm mỹ mi mắt
Phẫu thuật mi trên
- Giải quyết mi mắt bị lão hoá
- Tạo hai mí cho mắt người châu Á
Phẫu thuật mi dưới
- Đường phẫu thuật ngoài da
- Đường xuyên kết mạc
Săn sóc hậu phẫu
Hậu phẫu khá đơn giản, sau mổ có thể về ngay được, uống kháng sinh, giảm đau và nhỏ mắt bằng các dung dịch kháng sinh nhẹ như Chloramphénicol. Độ 5 ngày sau cắt chỉ.
Thường không cần băng lại nơi mổ, rất ít trường hợp mắt sưng bầm nhiều cần chườm nước đá.
Các biến chứng do phẫu thuật thẩm mỹ mắt
Biến chứng sớm
- Sưng bầm quanh mắt: do chảy máu nơi mổ, đôi khi cần mổ ra cầm máu lại. Để tránh biến chứng này, nên cầm máu kỹ khi phẫu thuật, sau khi mổ có thể đắp nước đá trong bao vô trùng vào nơi mổ độ vài giờ. Để đề phòng, bệnh nhân không nên phẫu thuật lúc đang có rối loạn đông máu (khi đang uống Aspirine, phụ nữ đang có kinh nguyệt...)
- Mi mắt hai bên xếp không đều có thể do kỹ thuật mổ hoặc do phù nề sau mổ.
- Chảy nước mắt nhiều: do phẫu thuật làm xáo trộn bộ máy bài tiết nước mắt, độ 2 tuần sau thì hết. Rất ít khi phẫu thuật mi mắt gây tắt lệ đạo cần phải giải quyết về sau.
- Song thị: Thường do máu tụ ở hốc mắt khi lấy mỡ hoặc do tổn thương các cơ mắt.
- Viêm kết mạc mắt: Ở người trên 50 tuổi, sự bài tiết nước mắt giảm, có thể bị viêm kết mạc và giác mạc mắt thể khô trước khi phẫu thuật. Mổ thẩm mỹ mi mắt rất ít khi gây viêm giác mạc.
- Sụp mi mắt trên: Thường do phù nề sau phẫu thuật, độ vài ngày sẽ hết. Nếu sụp mi kéo dài do cắt cơ nâng mi, phải phẫu thuật nối lại.
- Mắt lồi: Do chảy máu và tụ máu sau nhãn cầu cần mổ lại cầm máu
- Mù mắt: Biến chứng rất nặng, chiếm tỷ lệ 0,04% ( qua thống kê 98.000 ca phẩu thuật ), có thể do tụ máu sau nhãn cầu chèn ép thị thần kinh hay do cơ chế phản xạ gây co thắt động mạch trung tâm mắt.
Biến chứng muộn
- Sẹo xấu.
- Mắt bị khô nước mắt.
- Bờ mi mắt bị lật ngược ra ngoài ( Ectropion) do cắt da nhiều quá.
- Phù nề mắt kéo dài do phẫu thuật làm xáo trộn sự dẫn lưu bạch huyết
- Mắt bị lõm vào do lấy mỡ nhiều quá
Biến chứng của phẫu thuật mí đôi
1/ Hai mắt không đều: Có thể do hai mắt không đều nhau từ trước. Do đó, phải khám mắt kỹ trước khi phẫu thuật và giải thích cho khách rõ điều nầy.
Mi mắt xếp không đều do kỹ thuật mổ có thể tránh được bằng cách đo và vẽ kỹ trước khi gây tê. Ngoài ra, không nên dùng tiền mê sâu quá để khi phẫu thuật có thể cho khách mở mắt ra và so sánh nếp xếp bờ mi hai bên.
2/ Mi mắt không xếp ngay sau khi mổ do kỹ thuật cố định da vào sụn không hoàn chỉnh hoặc do phù nề sau mổ. Cần phẫu thuật lại khoảng 2 đến 3 tuần sau. Nếu sau mổ một thời gian, da mi không xếp, chỉ nên phẫu thuật lại sau 3-6 tháng
3/ Dư da trên nếp xếp bờ mi: Cần phẫu thuật lại và cắt bớt da, cơ vòng mắt
4/ Da mi mắt bị kéo lên trên, thường được gọi là mắt bị “trợn” do cố định da cao quá, phải mổ, cố định lại thấp hơn
5/ Sẹo mổ xấu: Rất ít xảy ra
6/ Mắt lõm vào do lấy nhiều mỡ quá. Biến chứng này điều trị khó, ngay cả ghép mỡ vào cũng không cho kết quả bao nhiêu.
7/ Phẫu thuật lại:
- Mi mắt xếp nhỏ quá, cần làm lớn hơn tương đối dễ.
- Mi mắt xếp cao quá, muốn thấp hơn: Khó thực hiện, nhất là đối với các trường hợp đã cắt bỏ nhiều da quá.
Kết luận
Phẫu thuật thẩm mỹ mi mắt là phẫu thuật đơn giản, làm cho mắt trẻ và đẹp lại, tuy nhiên cũng như tất cả các phẫu thuật khác, có tỷ lệ nguy hiểm cần phải biết và đề phòng trước.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Có nên nối mi không nhỉ?
Tăng trưởng chiều cao là một quá trình phức tạp được điều biến bởi di truyền, nội tiết và dinh dưỡng. Trong đó, các vi chất dinh dưỡng đóng vai trò cốt yếu vào việc hình thành mật độ xương và kéo dài xương chi.
Chiều cao không chỉ là một chỉ số phát triển thể chất mà còn phản ánh tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và tiềm năng phát triển lâu dài của trẻ. Trong bối cảnh Việt Nam vẫn còn đối mặt với tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở một bộ phận trẻ em, việc tìm kiếm các giải pháp dinh dưỡng phù hợp nhằm cải thiện tầm vóc đang trở thành một trong những ưu tiên quan trọng.
Trong bối cảnh áp lực thi cử ngày càng gia tăng, quan niệm hy sinh giấc ngủ để học tập thâu đêm vẫn còn khá phổ biến ở nhiều học sinh và phụ huynh. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của khoa học đây là một chiến lược phản tác dụng bởi não bộ cần thời gian nghỉ ngơi để xử lý và củng cố thông tin một cách trọn vẹn. Để giúp các sĩ tử hiểu rõ cơ chế này, Viện Y học ứng dụng Việt nam sẽ chia sẻ thông tin về vai trò của giấc ngủ đối với trí nhớ, giúp bạn không chỉ bảo vệ sức khỏe mà còn tối ưu hóa năng lực ghi nhớ và hiệu suất tư duy trong giai đoạn quan trọng.
Yoga là phương pháp luyện tập kết hợp vận động, kiểm soát hơi thở và thiền định, mang lại lợi ích lớn cho cả sức khỏe thể chất và tinh thần. Đặc biệt, yoga cho người mới bắt đầu là lựa chọn lý tưởng để giảm căng thẳng, tăng sự linh hoạt và cải thiện sức khỏe.
Nước bạc hà là thức uống đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe như hỗ trợ tiêu hóa, giảm đau đầu, cải thiện miễn dịch và làm dịu triệu chứng hô hấp…
Vào mùa thi, áp lực từ khối lượng kiến thức lớn, kỳ vọng từ gia đình, thầy cô cùng nỗi lo về kết quả tương lai dễ khiến nhiều bạn rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần và thể chất. Tuy nhiên, sự căng thẳng có thể được kiểm soát và tăng thêm động lực. Sau đây, viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về những kỹ thuật thư giãn và quản lý áp lực mùa thi hiệu quả.
Sắn dây là thức uống giải nhiệt quen thuộc. Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy dược liệu này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp khi dùng đơn lẻ hoặc phối hợp, tuy nhiên cần sử dụng đúng cách và theo tư vấn chuyên môn.
Nhiệt độ và huyết áp có mối quan hệ nghịch đảo, nghĩa là khi nhiệt độ tăng, huyết áp sẽ giảm.