Công nghệ nano trong phòng và trị HIV/AIDS
Hệ thống phân phối thuốc kháng retrovirus
Với kích thước rất nhỏ, các hệ thống nano cũng có thể cải thiện hoặc điều chỉnh sự phân bố các thuốc thân nước và kỵ nước vào các mô khác nhau. Ứng dụng này đặc biệt quan trọng đối với sự phân phối thuốc kháng retrovirus (ARV) hướng đích các tế bào nhiễm HIV. Nhiều hệ thống phân phối thuốc có kích cỡ nano đã được áp dụng đối với ARV bao gồm: Tiểu phân nano polymer, liposome, dendrimer, nhũ tương nano và hỗn dịch nano. Trong một số công bố gần đây dựa trên các hệ thống polymer, các hỗn dịch nano chứa rilpivirine hay indinavir đã được nghiên cứu. Những dạng phân phối thuốc này cho thấy có tác dụng phóng thích thuốc duy trì và phân phối thuốc hiệu quả vào nhiều loại mô khác nhau, bao gồm cả đại thực bào hay não bộ. Một hệ thống phân phối thuốc nano khác chứa stavudine hoặc zidovudine được vi nang hoá dưới dạng liposome có khả năng gắn kết với đường mannose và galactose cũng cho thấy làm tăng độ hấp thu thuốc vào trong tế bào và thuốc đạt được nồng độ cao ở hạch bạch huyết, gan, lách và phổi.

Công nghệ nano có nhiều ứng dụng trong điều trị và phòng ngừa HIV/AIDS.
Liệu pháp gene
Liệu pháp gene là một cách tiếp cận với nhiều triển vọng trong điều trị HIV/AIDS. Trong liệu pháp này, một đoạn gene (thường là phân tử siRNA - small interfering RNA) được chèn vào bên trong tế bào để cản trở sự lây nhiễm hoặc nhân lên của virus. Tuy nhiên, việc đưa được những đoạn gene này vào được bên trong các tế bào hoặc mô đặc hiệu lại là thách thức lớn nhất của liệu pháp. Công nghệ nano đã giúp khắc phục được vấn đề này. Ống nano (nanotube) đơn vách và carbosilane dendrimer cho thấy có khả năng đưa được phân tử siRNA vào các tế bào lympho T và tế bào đơn nhân ở máu ngoại vi. Ngoài ra, những phát triển gần đây trong các hệ thống phân phối siRNA dựa trên polymer và liposome có thể được tối ưu hoá để hướng đích các tế bào bị nhiễm HIV.
Liệu pháp miễn dịch
Một cách tiếp cận khác trong điều trị HIV/AIDS là điều hòa đáp ứng miễn dịch của cơ thể chống lại HIV bằng cách sử dụng các tác nhân điều hòa miễn dịch. Tế bào tua gai (dendritic cell - DC) là những tế bào trình diện kháng nguyên quan trọng chịu trách nhiệm khởi động và điều phối sự phát triển đáp ứng miễn dịch tế bào và miễn dịch dịch thể (tạo kháng thể). Nhiều phương pháp mới sử dụng công nghệ nano hướng đích để phân phối các yếu tố điều hòa miễn dịch có liên quan đến DC. Ứng dụng có bước tiến xa nhất trong nghiên cứu lâm sàng sử dụng công nghệ nano cho liệu pháp miễn dịch đối với HIV/AIDS đó là chế phẩm miếng dán DermaVir.
Phòng ngừa HIV/AIDS
Mặc dù quá trình phát triển các loại vắc-xin HIV/AIDS dựa trên nền tảng công nghệ nano vẫn đang trong giai đoạn phôi thai nhưng đã có những bước tiến đáng kể trong thời gian gần đây. Nhiều hệ thống có bản chất lipid đã được nghiên cứu cho phân phối vắc-xin. Trong các nghiên cứu trên động vật, các protein hoặc đoạn gene mã hóa đặc hiệu của HIV được đóng gói trong các loại liposome, nhũ tương nano hay các tiểu phân nano polymer cho thấy có khả năng hoạt hóa đáp ứng miễn dịch cao thông qua kháng thể đặc hiệu. Việc phát triển các loại vaccine HIV/AIDS hướng đích tế bào tua gai được phân phối trong các liposome cũng có những thành công nhất định.
Ngoài ra, việc phát triển các chất diệt trùng hiệu quả để phòng ngừa HIV/AIDS là một vấn đề thiết yếu. Các chất diệt trùng này được bôi trực tiếp vào âm đạo để ngăn ngừa lây truyền HIV/AIDS hoặc các bệnh lây lan qua đường tình dục khác. Các tiểu phân nano polymer cũng đang được nghiên cứu để phát triển các chất diệt trùng kháng HIV/AIDS, trong đó chúng được sử dụng để phân phối protein PSC-RANTES (chất ức chế đồng thụ thể CCR5 cần thiết cho HIV gắn kết và thâm nhập vào tế bào CD4+T) và các phân tử siRNA đặc hiệu HIV đóng vai trò là một tác nhân diệt trùng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Làm thế nào để biết phương pháp điều trị HIV có hiệu quả?
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.