Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chương trình đào tạo Y khoa liên tục: Bước tiến mới trong Khoa học thần kinh – Thành tựu trong điều trị đau và trầm cảm bằng các thang đo

Ngày 09.09 vừa qua, Tổng Hội Y học Việt Nam, Viện Y học ứng dụng Việt Nam đã phối hợp với công ty dược phẩm Pfizer tổ chức thành công chương trình đào tạo y khoa liên tục trên lĩnh vực thần kinh - tâm thần về chủ đề “Bước tiến mới trong khoa học thần kinh: Thành tựu trong điều trị đau và trầm cảm bằng các thang đo” tại khách sạn Sheraton, TP. Hồ Chí Minh.

Ngày 09.09 vừa qua, Tổng Hội Y học Việt Nam, Viện Y học ứng dụng Việt Nam đã phối hợp với công ty dược phẩm Pfizer tổ chức thành công chương trình đào tạo y khoa liên tục trên lĩnh vực thần kinh - tâm thần về chủ đề “Bước tiến mới trong khoa học thần kinh: Thành tựu trong điều trị đau và trầm cảm bằng các thang đo” tại khách sạn Sheraton, TP. Hồ Chí Minh.

Chương trình được điều hành bởi PGS.TS. Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Hội Y học các nước Đông Nam Á, Chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam; PGS.TS. Trần Văn Cường, Phó chủ tịch Tổng Hội Y học Việt Nam, Chủ tịch Hội tâm thần học Việt Nam; TS.BS. Trương Hồng Sơn, Phó tổng thư ký Tổng Hội Y học Việt Nam, Viện trưởng Viện Y học Ứng dụng Việt Nam; BS.CKII Thần kinh học Lê Minh, Chủ tịch Hội Bệnh Parkinson và rối loạn vận động Việt Nam; BS.CKI Tâm thần học Trịnh Tất Thắng, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần TP.HCM, Chủ tịch Hội tâm thần học HCM cùng với sự tham gia của 9 báo cáo viên, là các chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực như cơ xương khớp, nội thần kinh, ngoại thần kinh, nội tiết, tim mạch, tâm thần và hơn 300 cán bộ y tế từ 14 tỉnh thành trên cả nước.

PGS.TS Nguyễn Thị Xuyên - Chủ tịch Hội Y học các nước Đông Nam Á; Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam; Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế phát biểu khai mạc Hội thảo

9 báo cáo khoa học xoay quanh những bệnh lý quen thuộc, phổ biến trên lâm sàng như bệnh lý cơ xương khớp, đột quỵ, chấn thương cột sống, đái tháo đường, tim mạch nhưng lại khai thác ở một khía cạnh mới, từ góc độ thần kinh học, tâm thần học, mang lại cho các cán bộ y tế nhiều thông tin mới mẻ, hữu ích, cập nhật. Xuyên suốt các bài báo cáo, ngoài việc cập nhật kiến thức, chỉ ra những hạn chế có thể cải thiện trong thực hành lâm sàng, các báo cáo viên còn nhấn mạnh một thông điệp quan trọng, đó là sự cần thiết của việc áp dụng y học dựa trên bằng chứng vào lâm sàng nhằm nâng cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân, nhất là bệnh nhân đau và trầm cảm.

Y học dựa vào bằng chứng là một khái niệm không còn xa lạ với các cán bộ y tế, nói đơn giản là nền y học được xây dựng dựa trên nền tảng khoa học, được Bộ Y tế và các cơ quan quản lý y tế khuyến khích áp dụng và phát triển nhằm nâng cao tính chính xác và chất lượng chăm sóc của ngành y tế.

Sự ra đời của các công cụ cận lâm sàng đã làm nên một cuộc cách mạng của y học hiện đại. Đây chính là những ví dụ điển hình nhất của việc áp dụng y học dựa trên bằng chứng vào lâm sàng và những lợi ích mà chúng mang lại đã làm thay đổi toàn bộ nền y học. Việc đo huyết áp cho bệnh nhân tăng huyết áp, chụp X-quang cho bệnh nhân nghi ngờ viêm phổi, chỉ định MRI cho bệnh nhân đột quỵ để xác định loại và vị trí tổn thương,… đã trở thành một phần tất yếu, quen thuộc trong thực hành lâm sàng thường quy. Thậm chí, người ta còn nói nền y học hiện đại là nền y học lệ thuộc vào máy móc và các thiết bị xét nghiệm.

Toàn cảnh Hội thảo

Bên cạnh công cụ cận lâm sàng, nghiên cứu lâm sàng chính là một phần không thể thiếu của y học dựa vào bằng chứng. Kinh nghiệm lâm sàng có phải là bằng chứng khoa học? Có, bởi vì nó được đúc kết từ sự quan sát, học tập miệt mài của các bác sĩ qua hàng ngàn ca bệnh, đây chính là những nghiên cứu ca bệnh, loạt bệnh được thống kê và báo cáo trong các ấn phẩm khoa học. Nhưng kinh nghiệm lâm sàng có phải bằng chứng đáng tin cậy? Không hẳn, bởi vì nó không được thiết kế một cách bài bản, không đảm bảo sự ngẫu nhiên, mang màu sắc chủ quan của người quan sát và không loại bỏ được nhiều yếu tố gây nhiễu,… Kinh nghiệm lâm sàng, do đó, là bằng chứng khoa học có mức độ tin cậy thấp nhất. Đó là lý do vì sao các bác sĩ luôn được hướng dẫn phải tuân thủ các hướng dẫn điều trị. Bộ Y tế ban hành hướng dẫn điều trị quốc gia, bệnh viện ban hành hướng dẫn điều trị cơ sở bởi một lý do rất đơn giản, hướng dẫn điều trị chính là cây cầu nối lâm sàng với những bằng chứng khoa học mạnh nhất. Khuyến cáo của mỗi hướng dẫn điều trị đều được xây dựng dựa trên sự tổng hợp kết quả của những bằng chứng có độ tin cậy tốt nhất, từ phân tích gộp, tổng quan hệ thống cho đến thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng. Thay vì dựa hoàn toàn vào kinh nghiệm lâm sàng, dựa vào khuyến cáo từ các hướng dẫn điều trị và áp dụng một cách phù hợp vào tình hình lâm sàng chính là biện pháp để có hiệu quả điều trị tốt nhất và giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân cũng như bác sĩ.

Đau và trầm cảm cũng không ngoại lệ, là lĩnh vực mà y học dựa vào bằng chứng thực sự có thể tạo nên những thay đổi mang tính đột phá. Tương tự như một bệnh nhân được chẩn đoán rối loạn lipid máu nếu có chỉ số lipid máu vượt ngưỡng cho phép, một bệnh nhân được chẩn đoán trầm cảm khi có điểm số PHQ-9 >5, một bệnh nhân được chẩn đoán đau thần kinh khi có điểm số DN4 ≥4. Các thang điểm này không chỉ hỗ trợ bác sĩ trong chẩn đoán mà còn là công cụ đắc lực trong việc theo dõi đáp ứng của bệnh nhân. Tuy nhiên, điểm khác biệt chính của những thang điểm này so với các xét nghiệm cận lâm sàng chính là độ nhạy, độ đặc hiệu của nó thấp hơn, không đạt ngưỡng xấp xỉ 100% như các loại máy móc, thiết bị, đó là lý do vì sao trong đau và trầm cảm, phán đoán dựa trên kinh nghiệm lâm sàng của bác sĩ luôn đóng vai trò then chốt. Then chốt không có nghĩa là phán đoán lâm sàng này có thể thay thế hoàn toàn vai trò của các thang điểm. Các nghiên cứu đã chứng minh việc sử dụng thang điểm trong điều trị đau và trầm cảm rất hữu ích trong việc gia tăng hiệu quả điều trị, tỷ lệ thành công và sự tuân thủ của bệnh nhân. Giáo sư Sheehan, một nhà tâm thần học danh tiếng, cha đẻ của bảng thang điểm SDS (Sheehan disability scale) đã khẳng định: “Các bác sĩ nên đưa các thang điểm cho bệnh nhân trầm cảm của mình và yêu cầu họ hoàn thành nó trước khi vào khám, chỉ mất 5 phút, giống như việc y tá sẽ đo huyết áp cho bệnh nhân trước khi họ vào gặp bác sĩ vậy”. Có thể nói, trong đau và trầm cảm, các thang điểm đóng vai trò như những xét nghiệm cận lâm sàng tin cậy, là những chỉ dấu hỗ trợ chẩn đoán và điều trị cho bác sĩ.

Một điều khác mà y học dựa vào bằng chứng có thể giúp cải thiện, thậm chí là tạo nên bước đột phá trong điều trị đau và trầm cảm, đó là áp dụng khuyến cáo của các hướng dẫn điều trị nhằm gia tăng tỷ lệ thành công và hiệu quả điều trị. Một con số đáng lo ngại của thực tế điều trị lâm sàng trong đau và trầm cảm, đó là 40% bệnh nhân đau không hài lòng với hiệu quả giảm đau, 40-60% bệnh nhân trầm cảm thất bại với thuốc điều trị đầu tay,…Điều trị đau và trầm cảm có nhiều thách thức, nhưng không thể phủ nhận có nhiều khiếm khuyết mà chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi được. Một bác sĩ nắm rõ các hướng dẫn về điều trị đau sẽ không bao giờ kê NSAIDs cho một bệnh nhân đau thần kinh. Một bác sĩ hiểu rõ các hướng dẫn về điều trị trầm cảm sẽ không đợi tới tuần thứ 6, tuần thứ 8 mới bắt đầu đánh giá đáp ứng của bệnh nhân và điều chỉnh điều trị.

Thông điệp của chương trình đã được truyền tải một cách đầy đủ đến các cán bộ y tế tham dự, ngay từ tên của chương trình “Bước tiến mới trong khoa học thần kinh: Thành tựu trong điều trị đau và trầm cảm bằng các thang đo” cho đến báo cáo của từng báo cáo viên, tuy khác nhau về chủ đề nhưng tựu chung, đều nhấn mạnh lợi ích của việc áp dụng y học dựa trên bằng chứng vào thực hành lâm sàng thường quy.

Cuối chương trình, PGS.TS. Nguyễn Thị Xuyên, PGS.TS. Trần Văn Cường, TS.BS. Trương Hồng Sơn, BS.CKII. Lê Minh, BS.CKI. Trịnh Tất Thắng đã long trọng trao giấy chứng nhận đào tạo y khoa liên tục (tương đương 8 giờ đào tạo) của Tổng Hội Y học Việt Nam cho các cán bộ y tế tham dự tại Hội trường, kết thúc thành công một ngày Hội nghị chất lượng, lý thú và hữu ích.

Trao giấy chứng nhận cho các cán bộ y tế

Sự thành công của Chương trình đào tạo y khoa liên tục lần này chính là tiền đề quan trọng để Tổng Hội Y học Việt Nam tiếp tục phát triển, tổ chức những chương trình bổ ích khác trong thời gian tới cho các cán bộ y tế trên lĩnh vực thần kinh - tâm thần nói riêng và các lĩnh vực khác nói chung.

Để hiểu rõ hơn và cập nhật kiến thức từ những đề tài mới được khai thác trong Chương trình đào tạo Y khoa liên tục lần này, các quý đồng nghiệp có thể đọc các bài giới thiệu về Chương trình và xem video bài báo cáo của các báo cáo viên trên website Viện Y học ứng dụng Việt Nam (http:// vienyhocungdung.vn).

 

 

Bình luận
Tin mới
  • 18/09/2026

    Tác hại khi trẻ vừa ăn vừa xem điện thoại, ti vi và cách khắc phục

    Vừa ăn vừa xem điện thoại, tivi gây hại không nhỏ đến hệ tiêu hóa và sự phát triển của trẻ.

  • 18/09/2026

    Nhịn ăn gián đoạn trong phòng các bệnh mạn tính và rối lôạn chuyển hóa

    Nhịn ăn là phương pháp được áp dụng từ lâu đời, dưới nhiều hình thức khác nhau… chúng còn phổ biến trong một sô tôn giáo, hoặc được áp dụng trong một số biện pháp phòng và điều trị bệnh mạn tính, rối loạn chuyển hóa. Cơ chế ảnh hưởng của nhịn ăn tới chức năng hoạt động của các cơ quan, sinh lý tế bào và sinh học phân tử cũng ngày càng được khoa học chứng minh. Điển hình là giải thưởng Nobel về Sinh lý Y học năm 2016 [1], được trao cho nhà khoa học Nhật -Yoshinori Ohsum, đã chứng minh các vai trò quan trọng của tự thực bào (autophagy) và một số gen điều hòa hoạt động tự thực bào, giúp sáng tỏ thêm nhiều cơ chế phân tử tế bào, cũng như sản xuất ra các thuốc mới trong trong phòng chống bệnh tật.

  • 18/09/2026

    Bí quyết phòng tránh sốc nhiệt và cảm lạnh khi đi du lịch vùng cao vào mùa thu

    Nhiều người thường chọn xu hướng rời xa vùng đồng bằng để tìm đến các vùng núi cao như một lựa chọn lý tưởng vào mùa thu nhằm tận hưởng không khí trong lành. Khí hậu se lạnh, mát mẻ tại các đỉnh núi cao luôn mang lại cảm giác dễ chịu và thư thái. Tuy nhiên, ẩn sau bức màn thời tiết lý tưởng đó là những cạm bẫy khí hậu có thể đe dọa trực tiếp đến hệ miễn dịch của du khách nếu không biết cách bảo vệ sức khỏe trước đặc trưng thời tiết miền núi vào mùa thu. Để giúp bạn có một chuyến đi an toàn và trọn vẹn, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ thông tin về những nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn cùng cẩm nang thích nghi khoa học ngay dưới đây.

  • 17/09/2026

    Sau tuổi 60 nên ăn gì để tránh mất cơ?

    Hiểu đúng nguyên nhân và chủ động điều chỉnh chế độ dinh dưỡng là giải pháp giúp người độ tuổi 60 duy trì sức khỏe và cơ bắp.

  • 17/09/2026

    8 loại thức uống cấp nước giúp cải thiện làn da

    Những gì bạn uống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe và vẻ ngoài của làn da. Các lựa chọn giàu chất dinh dưỡng và dưỡng chất như nước chanh, trà xanh và nước hầm xương có thể giúp hỗ trợ làn da khỏe mạnh hơn.

  • 16/09/2026

    Nên uống bao nhiêu nước lá đinh lăng mỗi ngày để giảm cân an toàn?

    Nước lá đinh lăng hỗ trợ kích thích trao đổi chất và chuyển hóa mỡ thừa, giảm cân hiệu quả khi dùng đúng.

  • 16/09/2026

    Cảnh giác với làn sóng đồ ăn vặt cổng trường mùa tựu trường

    Mỗi mùa khai trường, các hàng quán ăn vặt di động rực rỡ sắc màu trước cổng trường luôn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với học sinh sau giờ tan học. Tuy nhiên, những món ăn nhanh giá rẻ này lại ẩn chứa nhiều hiểm họa khôn lường về thực phẩm bẩn, trở thành nỗi lo âu sâu sắc của gia đình và nhà trường. Để bảo vệ sức khỏe con trẻ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những góc nhìn khoa học và cảnh báo chi tiết về mối nguy hại từ các loại đồ ăn vặt cũng như thức ăn đường phố này.

  • 15/09/2026

    5 thói quen ăn uống phụ nữ tuổi 40 cần tránh để bảo vệ sức khỏe

    Chế độ ăn uống lành mạnh giúp bảo vệ sức khỏe và duy trì năng lượng cho phụ nữ tuổi 40.

Xem thêm