Trẻ em nếu có cholesterol cao có nghĩa là sẽ chịu tác động lâu dài của các vấn đề về tim mạch, tiểu đường, đột quỵ hơn là khi vấn đề này gặp ở người trưởng thành. Việc biết được nồng độ cholesterol của trẻ là một điều quan trọng, đặc biệt nếu tiền sử gia đình của trẻ có người mắc cholesterol cao hoặc có tiền sử bệnh tim mạch.
Cholesterol là gì?
Cholesterol là một chất béo được sản xuất ở gan, đây là chất béo do cơ thể tạo ra và được sử dụng để tạo nên các màng tế bào cũng như một số hormon.
Cơ thể bạn nhận được cholesterol để hoạt động bình thường từ 2 nguồn: do gan sản xuất khoảng 1.000 milligram mỗi ngày; phần còn lại đến từ thức ăn hàng ngày.
Mặc dù rau quả, ngũ cốc không có cholesterol nhưng những thức ăn từ động vật thì lại có với hàm lượng khác nhau:
Lòng đỏ trứng
Thịt
Gia cầm
Đồ biển
Các sản phẩm hàng ngày như sữa, pho mát, kem.
Cholesterol tốt và cholesterol xấu
Cholesterol không thể tự di chuyển khắp cơ thể mà phải kết hợp với protein tạo nên lipoprotein, đi theo dòng máu để đến các cơ quan cần thiết.
Trong cơ thể có 2 loại Cholesterol: lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL).
LDL hay cholesterol xấu là cholesterol vận chuyển chính. Quá nhiều LDL trong máu có thể làm dày lên ở thành các động mạch dẫn đến tim và não. Sự dày lên này tạo ra các mảng bám gọi là xơ vữa động mạch và có thể khiến các mạch máu bị hẹp lại và tắc nghẽn và khiến cục máu đông dễ hình thành hơn. Nếu một cục máu đông hình thành và một động mạch bị tắc quả sẽ dẫn đến việc cung cấp máu cho tim, não bị ngừng trệ và bạn có thể bị đau tim hoặc đột quỵ. Xơ vữa động mạch cũng có thể làm giảm lượng máu chảy đến các cơ quan khác, bao gồm ruột hoặc thận gây nên các biến chứng nguy hiểm.
Nồng độ cao LDL làm tăng nguy cơ cho bệnh tim và đột quỵ, trong khi nông độ cao HDL có thể giúp bảo vệ hệ thống tuần hoàn.
Tác nhân nào làm tăng nồng độ cholesterol ở trẻ em?
Chế độ ăn uống: một chế độ ăn nhiều chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa và chất béo dạng trans chính là nguyên nhân hàng đầu gây tăng cholesterol máu, nhất là LDL.
Yếu tố di truyền: có bố mẹ có cholesterol cao sẽ làm tăng nguy cơ ở trẻ em.
Béo phì: một em bé bị béo phì thường liên quan đến cả chế độ ăn uống và ít tập thể dục, ít vận động.
Như vậy, những trẻ năng hoạt động, có chế độ dinh dưỡng cân đối, không có bệnh sử gia đình mắc cholesterol cao hoặc bệnh tim, và không bị thừa cân sẽ ít có nguy cơ bị cholesterol cao.
Kiểm soát và điều trị nồng độ cholesterol cao
Các hướng dẫn hiện nay khuyến cáo tất cả các trẻ nhỏ được sàng lọc nồng độ cholesterol máu ít nhất một lần khi chúng từ 9 đến 11 tuổi và lặp lại khi từ 17 tuổi đến 21 tuổi.
Những trẻ từ 2 đến 8 tuổi và 12 đến 16 tuổi mà có những yếu tố nguy cơ cholesterol cao như đã mô tả ở trên nên được kiểm tra thường xuyên hơn. Sàng lọc cholesterol máu được khuyến khích cho những trẻ:
Bác sĩ có thể cho trẻ làm xét nghiệm máu đơn giản, thường sẽ phải kiêng ăn (không ăn hoặc uống, ngoại trừ nước trong 12 giờ), để cho bạn biết nếu nồng độ cholesterol của con bạn quá cao hay không.
Theo hướng dẫn của Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia (NCEP) của Mỹ, thứ tự của cholesterol toàn phần và cholesterol hàm lượng thấp cho trẻ nhỏ từ 2-18 tuổi là:
|
Loại |
Cholesterol toàn phần (mg/dL) |
LDL cholesterol, (mg/dL) |
|
Cho phép |
Nhỏ hơn 170 |
Nhỏ hơn 110 |
|
Ranh giới |
170-199 |
110-129 |
|
Cao |
Lớn hơn hoặc bằng 200 |
Lớn hơn hoặc bằng 130 |
Trẻ nhỏ có nồng độ LDL cholesterol lớn hơn hoặc bằng 130 mg/dL được khuyến cáo áp dụng chế độ ăn giảm chất béo và cholesterol và tăng hoạt động thể chất. Định kỳ kiểm tra cholesterol sau 3 đến sau tháng can thiệp lối sống.
Thuốc giảm cholesterol được cân nhắc sử dụng cho trẻ từ 10 tuổi trở lên có nồng độ cholesterol LDL lớn hơn hoặc bằng 190 mg/dL nếu sự thay đổi trong chế độ ăn và tập thể dục không có hiệu quả.
Đối với trẻ có thêm những yếu tố nguy cơ khác, điều trị được cân nhắc kể cả khi lượng cholesterol ở nồng độ thấp.
10 cách để giảm cholesterol
Dưới đây là 10 cách để đảm bảo lượng cholesterol của gia đình bạn trong nồng độ cho phép:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Ý nghĩa các chỉ số Cholesterol trong ước lượng rủi ro tim mạch
Dù có nhiều lợi ích cho sức khỏe nhưng rau cải bẹ xanh vẫn tiềm ẩn nguy cơ có hại cho sức khỏe với một số người. Nếu ăn uống thiếu kiến thức, loại rau này có thể khiến bệnh tình trở nên tồi tệ hơn.
Bạn đang cảm thấy tự ti với đôi má bánh bao, nọng cằm hay vùng cổ kém thon gọn? Bạn không đơn độc. Mặc dù trên thị trường có rất nhiều loại đai định hình hay thiết bị massage được quảng cáo là "thần dược" giúp mặt thon gọn, nhưng thực tế có rất ít bằng chứng khoa học ủng hộ các phương pháp này.
Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.
Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).