Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Cholesterol và trẻ em

Chúng ta thường nghĩ cholesterol chỉ có tác động đến người lớn và trẻ nhỏ dường như được "an toàn". Nhưng thực tế, nồng độ cholesterol cao là một tác nhân chính gây ra bệnh tim và đột quỵ, và điều đó có thể có nguồn gốc từ tuổi thơ. Sự gia tăng đáng kể tỷ lệ trẻ em béo phì hiện nay đang đặt trẻ em đối mặt với nguy cơ chịu tác động của cholesterol sớm và lâu dài hơn.

Cholesterol và trẻ em

Trẻ em nếu có cholesterol cao có nghĩa là sẽ chịu tác động lâu dài của các vấn đề về tim mạch, tiểu đường, đột quỵ hơn là khi vấn đề này gặp ở người trưởng thành. Việc biết được nồng độ cholesterol của trẻ là một điều quan trọng, đặc biệt nếu tiền sử gia đình của trẻ có người mắc cholesterol cao hoặc có tiền sử bệnh tim mạch.

Cholesterol là gì?

Cholesterol là một chất béo được sản xuất ở gan, đây là chất béo do cơ thể tạo ra và được sử dụng để tạo nên các màng tế bào cũng như một số hormon.

Cơ thể bạn nhận được cholesterol để hoạt động bình thường từ 2 nguồn: do gan sản xuất khoảng 1.000 milligram mỗi ngày; phần còn lại đến từ thức ăn hàng ngày.

Mặc dù rau quả, ngũ cốc không có cholesterol nhưng những thức ăn từ động vật thì lại có với hàm lượng khác nhau:

  • Lòng đỏ trứng

  • Thịt

  • Gia cầm

  • Đồ biển

  • Các sản phẩm hàng ngày như sữa, pho mát, kem.

Cholesterol tốt và cholesterol xấu

Cholesterol không thể tự di chuyển khắp cơ thể mà phải kết hợp với protein tạo nên lipoprotein, đi theo dòng máu để đến các cơ quan cần thiết. 

Trong cơ thể có 2 loại Cholesterol: lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) và lipoprotein tỷ trọng cao (HDL).

  • LDL hay cholesterol xấu là cholesterol vận chuyển chính. Quá nhiều LDL trong máu có thể làm dày lên ở thành các động mạch dẫn đến tim và não. Sự dày lên này tạo ra các mảng bám gọi là xơ vữa động mạch và có thể khiến các mạch máu bị hẹp lại và tắc nghẽn và khiến cục máu đông dễ hình thành hơn. Nếu một cục máu đông hình thành và một động mạch bị tắc quả sẽ dẫn đến việc cung cấp máu cho tim, não bị ngừng trệ và bạn có thể bị đau tim hoặc đột quỵ. Xơ vữa động mạch cũng có thể làm giảm lượng máu chảy đến các cơ quan khác, bao gồm ruột hoặc thận gây nên các biến chứng nguy hiểm.

  • HDL hay cholesterol tốt, vận chuyển cholesterol ra từ các động mạch đến gan, nơi chúng được chế biến và thải ra ngoài cơ thể, và thậm chí có thể lấy đi cholesterol từ các vùng có mảng bám.

Nồng độ cao LDL làm tăng nguy cơ cho bệnh tim và đột quỵ, trong khi nông độ cao HDL có thể giúp bảo vệ hệ thống tuần hoàn.

Tác nhân nào làm tăng nồng độ cholesterol ở trẻ em?

Chế độ ăn uống: một chế độ ăn nhiều chất béo, đặc biệt là chất béo bão hòa và chất béo dạng trans chính là nguyên nhân hàng đầu gây tăng cholesterol máu, nhất là LDL.

Yếu tố di truyền: có bố mẹ có cholesterol cao sẽ làm tăng nguy cơ ở trẻ em.

Béo phì: một em bé bị béo phì thường liên quan đến cả chế độ ăn uống và ít tập thể dục, ít vận động.

Như vậy, những trẻ năng hoạt động, có chế độ dinh dưỡng cân đối, không có bệnh sử gia đình mắc cholesterol cao hoặc bệnh tim, và không bị thừa cân sẽ ít có nguy cơ bị cholesterol cao. 

Kiểm soát và điều trị nồng độ cholesterol cao

Các hướng dẫn hiện nay khuyến cáo tất cả các trẻ nhỏ được sàng lọc nồng độ cholesterol máu ít nhất một lần khi chúng từ 9 đến 11 tuổi và lặp lại khi từ 17 tuổi đến 21 tuổi.

Những trẻ từ 2 đến 8 tuổi và 12 đến 16 tuổi mà có những yếu tố nguy cơ cholesterol cao như đã mô tả ở trên nên được kiểm tra thường xuyên hơn. Sàng lọc cholesterol máu được khuyến khích cho những trẻ:

  • Có bố mẹ hoặc người thân có nồng độ cholesterol cao hơn 240 mg/dL
  • Có tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch trước 55 tuổi ở nam giới và trước 65 tuổi ở phụ nữ
  • Có một số vấn đề sức khỏe nhất định như bệnh thận, bệnh Kawasaki, hoặc viên khớp tự phát ở tuổi vị thành niên
  • Có các yếu tố nguy cơnhư đái tháo đường, huyết áp cao, hoặc hút thuốc lá

Bác sĩ có thể cho trẻ làm xét nghiệm máu đơn giản, thường sẽ phải kiêng ăn (không ăn hoặc uống, ngoại trừ nước trong 12 giờ), để cho bạn biết nếu nồng độ cholesterol của con bạn quá cao hay không. 

Theo hướng dẫn của Chương trình giáo dục cholesterol quốc gia (NCEP) của Mỹ, thứ tự của cholesterol toàn phần và cholesterol hàm lượng thấp cho trẻ nhỏ từ 2-18 tuổi là:

Loại

Cholesterol toàn phần (mg/dL)

LDL cholesterol, (mg/dL)

Cho phép

Nhỏ hơn 170

Nhỏ hơn 110

Ranh giới

170-199

110-129

Cao

Lớn hơn hoặc bằng 200

Lớn hơn hoặc bằng 130

Trẻ nhỏ có nồng độ LDL cholesterol lớn hơn hoặc bằng 130 mg/dL được khuyến cáo áp dụng chế độ ăn giảm chất béo và cholesterol và tăng hoạt động thể chất. Định kỳ kiểm tra cholesterol sau 3 đến sau tháng can thiệp lối sống.

Thuốc giảm cholesterol được cân nhắc sử dụng cho trẻ từ 10 tuổi trở lên có nồng độ cholesterol LDL lớn hơn hoặc bằng 190 mg/dL nếu sự thay đổi trong chế độ ăn và tập thể dục không có hiệu quả.

Đối với trẻ có thêm những yếu tố nguy cơ khác, điều trị được cân nhắc kể cả khi lượng cholesterol ở nồng độ thấp.

10 cách để giảm cholesterol

Dưới đây là 10 cách để đảm bảo lượng cholesterol của gia đình bạn trong nồng độ cho phép:

  1. Biết được nồng độ cholesterol của chính bản thân và thành viên trong gia đình.
  2. Áp dụng chế độ ăn giàu rau quả, và cả ngũ cốc.
  3. Chọn đồ ăn đa dạng protein, bao gồm thịt nạc và gia cầm, cá, đậu đỗ, và các sản phẩm từ đậu nành.
  4. Lưu ý thành phần dinh dưỡng thông qua nhãn dinh dưỡng của các sản phẩm bạn sử dụng cho gia đình. Giới hạn lượng cholesterol và chất béo bão hòa dạng trans nạp vào. Hướng dẫn chế độ ăn năm 2010 của Mỹ khuyến cáo :
  • Nên duy trì chất béo nạp vào khoảng từ 30 – 40% cho trẻ từ 1 – 3 tuổi và từ 25 – 35% cho trẻ từ 4 – 18 tuổi, với hầu hết chất béo từ các nguồn có chất béo như cá, đậu đỗ và dầu thực vật.
  • Với trẻ hơn 2 tuổi và thanh thiếu niên:
    • Hạn chế lượng cholesterol dưới 300 miligram mỗi ngày
    • Duy trì chất béo bão hòa ít hơn 10% tổng lượng calo mỗi ngày
    • Tránh chất béo dạng trans càng nhiều càng tốt
  1. Chọn các sản phẩm sữa không béo hoặc ít béo
  2. Tránh xa chất béo rắn. Sử dụng dầu thực vật.
  3. Hạn chế đồ uống và thức ăn cho thêm đường.
  4. Hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và dùng đồ ăn nhẹ như rau quả tươi, sữa chua ít chất béo.
  5. Khuyến khích tập thể dục nhiều. Tập thể dục giúp tăng nồng độ HDL trong máu – và đó là một điều tốt. Trẻ nhỏ và thanh thiếu niên nên tập thể dục ít nhất 60 phút mỗi ngày.
  6. Tạo ra lối sống khỏe mạnh hơn cho cả gia đình. Trẻ nhỏ thường không phải là đối tượng duy nhất có nguy cơ cao, do vậy quan trọng là tạo ra nỗ lực của cả gia đình. Cải thiện lối sống của gia đình không chỉ có ảnh hưởng tích cực đến sức khỏe gia đình ở thời điểm hiện tại mà còn cả tương lai sau này

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Ý nghĩa các chỉ số Cholesterol trong ước lượng rủi ro tim mạch

Ts.Bs.Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 28/06/2026

    Liệu các biện pháp tự nhiên có thể cải thiện sức khỏe túi mật?

    Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.

  • 27/06/2026

    Cách bảo vệ hệ thần kinh cho người hâm mộ hay thức khuya xem bóng đá

    Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.

  • 27/06/2026

    Tổ chức Hội đồng xét duyệt đề cương đề tài về tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân

    Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”

  • 27/06/2026

    Những dấu hiệu sớm của bệnh tiểu đường bạn cần biết

    Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.

  • 26/06/2026

    Phòng tránh sốc nhiệt mùa hè: Hướng dẫn toàn diện bảo vệ sức khỏe

    Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.

  • 26/06/2026

    Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề tiêu hóa khác không?

    Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.

  • 25/06/2026

    Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường hô hấp ở nơi công cộng

    Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.

  • 24/06/2026

    Ung thư phổi và những mối nguy hại đến hệ hô hấp của người cao tuổi

    Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.

Xem thêm