Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bệnh võng mạc do tia xạ

Bệnh võng mạc là tên gọi chung của một số chứng bệnh về mắt do rối loạn trong võng mạc (hay còn gọi là đáy mắt).

Bệnh võng mạc là tên gọi chung của một số chứng bệnh về mắt do rối loạn trong võng mạc (hay còn gọi là đáy mắt). Bệnh đứng thứ hai, sau đục thủy tinh thể trong các loại bệnh gây mù lòa. Bệnh võng mạc do tia xạ là bệnh mạch máu võng mạc tiến triển chậm, khởi phát muộn sau khi tiếp xúc với tia xạ.

Võng mạc là lớp mô thần kinh của mắt và hoạt động như một cuốn phim trong máy quay. Khi ánh sáng đi vào trong mắt, nó xuyên qua giác mạc, thủy tinh thể và được hội tụ trên võng mạc. Võng mạc có chức năng chuyển năng lượng ánh sáng thành thị lực và gửi thông tin ngược về não qua những dây thần kinh thị giác. Hoàng điểm là phần trung tâm và nhạy cảm của võng mạc, nó cung cấp nội dung cũng như độ sắc nét của thị lực.

Bệnh xuất hiện sau liệu pháp chiếu tia điều trị u trong mắt và vùng đầu - mặt - cổ

Bệnh võng mạc do tia có thể xảy ra sau liệu pháp chiếu tia bên ngoài  điều trị u hốc mắt, u xoang, u mũi họng, u sọ mặt hoặc đặt đĩa hoạt tính phóng xạ ở thành nhãn cầu để điều trị u trong mắt. Bệnh võng mạc do tia có thể xuất hiện 6 tháng đến 8 năm, hay gặp nhất từ 6 tháng đến 3 năm sau điều trị tia. Bệnh võng mạc do tia xảy ra sớm hơn với liệu pháp đặt đĩa cobalt củng mạc và muộn hơn nếu điều trị tia các u cạnh hốc mắt.

Cấu trúc của nhãn cầu.

Khi liều tia hàng ngày hoặc tổng liều tia càng lớn thì càng có nguy cơ tổn thương võng mạc và bệnh võng mạc do tia càng nặng. Với liệu pháp chiếu tia bên ngoài, tỷ lệ bệnh võng mạc do tia tăng khi tổng liều tia trên 45Gy; nếu tổng liều tia dưới 25Gy và liều tia hàng ngày không quá 2Gy sẽ ít gây bệnh võng do tia. Với liệu pháp đặt đĩa cobalt, tổng liều tia để có thể gây bệnh võng mạc cao gấp 2-3 lần so với liệu pháp tia bên ngoài. Liệu pháp tia dù ở liều thấp có thể gây bệnh võng mạc do tia nếu có kết hợp hóa trị liệu. Cơ địa đái tháo đường, tăng huyết áp là những yếu tố tăng nguy cơ bệnh võng mạc do tia.

Dấu hiệu nhận biết

Tia xạ gây tổn thương tế bào nội mô mạch máu dẫn đến tắc mao mạch và hình thành vi phình mạch võng mạc. Bệnh nhân có giảm thị lực.

Soi đáy mắt: Phù hoàng điểm là dấu hiệu sớm và phổ biến nhất của bệnh. Những biến đổi vi mạch võng mạc gồm vi phình mạch và giãn mao mạch võng mạc, tiếp theo có xuất tiết bông, những vùng mao mạch không ngấm máu, xuất huyết trong võng mạc, xuất tiết cứng, phù đĩa thị hoặc teo đĩa thị, có thể có lồng bao mạch máu (viền trắng ở thành mạch máu). Hẹp tiểu động mạch, tắc mạch võng mạc lan rộng dẫn đến tân mạch võng mạc và đĩa thị, tân mạch mống mắt và có thể biến chứng xuất huyết dịch kính, bong võng mạc co kéo, glocom tân mạch.

Chụp mạch đáy mắt huỳnh quang có phù hoàng điểm, tăng tính thấm thành mạch, vi phình mạch, có thể thấy tắc mạch võng mạc, những vùng thiếu máu võng mạc, tân mạch võng mạc và đĩa thị.

Chẩn đoán xác định bệnh võng mạc do tia dựa vào tiền sử điều trị tia xạ vùng mắt, đầu - mặt - cổ và các triệu chứng đáy mắt đã mô tả, trong đó tiền sử điều trị tia là rất quan trọng.

Điều trị thế nào?

Những trường hợp phù hoàng điểm không do thiếu máu có thể điều trị quang đông laser dạng lưới, phù giảm và thị lực cải thiện ở nhiều bệnh nhân.

Quang đông toàn bộ võng mạc (trừ vùng võng mạc trung tâm) khi có thiếu máu võng mạc, tân mạch võng mạc.

Tiêm bevacizumab (Avastin) hoặc triamcinolon vào dịch kính cũng có kết quả trong một số trường hợp bệnh võng mạc do tia. Bevacizumab chống yếu tố phát triển nội mô mạch máu nên làm giảm quá trình sinh mạch và rò mạch, triamcinolon điều chỉnh tính thấm của mao mạch nên có tác dụng giảm phù hoàng điểm.

Các phương pháp điều trị khác gồm liệu pháp quang đông, ôxy cao áp (nhằm cải thiện quá trình ôxy hóa), uống pentoxifyllin (tác dụng giãn mạch, tăng cường lưu thông máu ở mắt).

Cắt dịch kính nếu xuất huyết dịch kính không tiêu hoặc bong võng mạc co kéo.

Che chắn các cấu trúc mắt khi thực hiện liệu pháp chiếu tia bên ngoài có thể hạn chế được bệnh võng mạc do tia.

ThS.BS. Hoàng Thị Hạnh - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 21/03/2026

    Trà thảo mộc và cơ chế sinh học giúp thư giãn tinh thần

    Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.

  • 21/03/2026

    7 thức uống giúp thanh lọc phổi tự nhiên

    Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.

  • 21/03/2026

    Khi cảm lạnh chuyển thành viêm xoang

    Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?

  • 20/03/2026

    Đản hoa – Thảo mộc thường bị bỏ quên

    Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.

  • 20/03/2026

    Sương mù não do hóa trị

    Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.

  • 19/03/2026

    Trẻ khó ngủ, mất ngủ do tăng động: Dấu hiệu không nên bỏ qua

    Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.

  • 19/03/2026

    Bệnh sốt xuất huyết

    Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

  • 19/03/2026

    Thảo mộc giàu flavonoid và vai trò trong hỗ trợ giảm nguy cơ ung thư

    Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.

Xem thêm