1. Nguyên nhân gây bệnh gan ở trẻ em
Gan là cơ quan chuyển hóa quan trọng trong cơ thể. Gan được xem như nhà máy hóa chất lớn nhất. Gan sản xuất ra dịch mật - dịch thể quan trọng trong quá trình tiêu hóa, đảm trách việc điều hòa nhiều phản ứng hóa sinh, những phản ứng này chỉ xảy ra ở một số tổ chức đặc biệt của cơ thể. Gan dự trữ chất dinh dưỡng, mỡ và vitamin, chuyển hóa thức ăn thành năng lượng, tạo protein cho huyết tương và thải độc cho cơ thể.
Có nhiều nguyên nhân, trong đó do trẻ nhỏ chưa hoàn thiện về sinh lý của gan nên ảnh hưởng sự tiếp xúc cũng như phản ứng lại khi cơ thể trẻ tiếp xúc với chất độc hay virus (A, B, C…). Ngoài ra, trẻ nhỏ có thể mắc bệnh gan di truyền hoặc có nguyên nhân rối loạn chuyển hóa.
Các bệnh gan phát hiện ở trẻ em thường do viêm nhiễm, di truyền, rối loạn chuyển hóa hoặc bệnh mạn tính. Điều này chứng tỏ trẻ có thể mắc bệnh gan do ảnh hưởng từ môi trường xung quanh hoặc do các vấn đề sức khỏe khác của trẻ.
Các yếu tố thuận lợi gây bệnh gan ở trẻ em gồm: Do trẻ chưa hoàn thiện về sinh lý của gan trong thời gian chu sinh và những thay đổi quan trọng của quá trình chuyển hóa của gan trong thời gian thơ ấu. Chính những thay đổi này ảnh hưởng sự tiếp xúc cũng như phản ứng lại khi cơ thể trẻ tiếp xúc với chất độc hay virus.

Bệnh gan ở trẻ thường do viêm nhiễm, di truyền, rối loạn chuyển hóa hoặc bệnh mạn tính.
2. Các bệnh gan cấp tính ở trẻ và biểu hiện
Bệnh gan cấp ở trẻ cũng do viêm gan cấp bởi các virus, do ngộ độc, tổn thương gan thứ phát sau nhiễm trùng, nhiễm trùng đường mật, tình trạng đọng sắc tố sắt ở trẻ sơ sinh (Neonatal Hemochromatosis)… có thể dẫn đến bệnh gan cấp tính ở trẻ nhỏ .
Bệnh gan cấp tính như bệnh viêm gan do virus, hội chứng Reye, có biểu hiện khởi bệnh đột ngột. Nếu viêm gan do virus mà nguyên nhân thông thường nhất của viêm gan do virus là virus A và B. Cả hai đều biểu hiện như một tình trạng cảm sốt kèm vàng da, gan to, tiến trình bệnh thì khác nhau.
Ở viêm gan A thường không có triệu chứng chiếm 75 - 95% ở trẻ em. Ở viêm gan B được lây truyền qua đường chu sinh. Trẻ biểu hiện bệnh gần giống người lớn, hiếm xảy ra có kèm bệnh ngoài gan liên quan miễn dịch. Trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg + thường có nguy cơ cao trở thành nguồn mang bệnh mạn tính, phát triển thành ung thư gan.
Hội chứng Reye rất hiếm gặp và có khả năng gây tử vong cao do tổn thương cấp tính ở não - gan.
Hội chứng Reye thường có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó thường gặp nhất ở trẻ em và thanh thiếu niên đang hồi phục sau nhiễm virus, phổ biến nhất là bệnh cúm hoặc thủy đậu.
Tuổi khởi phát cao nhất từ 5-14 tuổi. Tuy nhiên, có trường hợp đã được báo cáo ở trẻ em dưới 1 tuổi. Các triệu chứng của hội chứng Reye thường xuất hiện và tăng dần trong khoảng từ 12 giờ đến 3 tuần sau khi hồi phục bị nhiễm virus gây ra như nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc viêm dạ dày ruột.
Sự khởi phát nôn mửa phổ biến nhất xảy ra từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 6 sau khi bị bệnh do virus.
Ở trẻ dưới 2 tuổi, các dấu hiệu đầu tiên của hội chứng Reye có thể bao gồm: Đại tiện phân lỏng nước, nhịp thở nhanh…
Đối với trẻ lớn hơn và thanh thiếu niên, các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu có thể nôn liên tục, yếu hoặc liệt ở tay và chân.
Tiến triển bệnh có suy gan kèm biến chứng thoái hóa thần kinh như động kinh, hôn mê có thể xảy ra nhanh chóng. Ngoài ra, bệnh gan cấp ở trẻ còn có một số nguyên nhân như bệnh nang gan cũng có thể khiến trẻ mắc bệnh.

Biểu hiện bệnh gan mạn tính ở trẻ không rõ ràng, thường diễn biến âm thầm.
3. Bệnh gan mạn tính ở trẻ em và biểu hiện
Nguyên nhân bệnh gan mạn tính ở trẻ thường do viêm gan do virus.
Viêm gan do các loại virus viêm gan B, virus viêm gan C, virus viêm gan D, viêm gan do các virus thuộc nhóm Cytomegalovirus, Rubella... ; viêm gan tự miễn; viêm gan mạn do thuốc (trị ung thư, thuốc kháng động kinh, thuốc chống lao …) và nhiễm độc (đồng, chì, thủy ngân, asen)… gây viêm gan mạn tính ở trẻ. Một số bệnh rối loạn chuyển hoá di truyền có thể gây tổn thương gan mạn tính kéo dài như Wilson.
Biểu hiện bệnh gan mạn tính ở trẻ không rõ ràng, thường diễn biến âm thầm- Viêm gan mạn tính thể tồn tại thường chỉ phát hiện được bằng xét nghiệm cận lâm sàng. Triệu chứng lâm sàng như vàng da, sốt… chỉ gặp trong đợt cấp hoặc viêm gan mạn tính thể tấn công… Triệu chứng ngoài gan thường thấy ở trẻ là :
Đau khớp,
Viêm đa khớp
Giãn mạch hình sao
Lòng bàn tay son
Sạm da
Trứng cá
Mất kinh
Viêm cầu thận
Viêm nút quanh động mạch
Các bất thường vận động ngoại tháp ở các bệnh nhân Wilson.
4. Ảnh hưởng thứ phát của bệnh gan ở trẻ em
Khi trẻ mắc bệnh gan mà không được điều trị, có thể biểu hiện như: Tăng Bilirubin máu, gan to, suy tế bào gan, xơ gan, nang gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa hoặc bệnh toàn thân do ảnh hưởng thứ phát của bệnh gan.
Ảnh hưởng thứ phát với các biểu hiện toàn thân do bệnh gan gây ra là:
Rối loạn chuyển hóa như hạ đường huyết.
Rối loạn đông máu thứ phát do nồng độ các yếu tố phụ thuộc vitamin K thấp.
Bệnh Fructosemia hoặc Galactosemia: Khi gan có bệnh sẽ không thải hết các độc tố ra ngoài. Điều này làm cho cơ thể tiếp xúc độc tố kéo dài, có thể gặp trong các bệnh Fructosemia hoặc Galactosemia.
Nhiễm trùng: là nguyên nhân của bệnh gan, hay là hậu quả thứ phát của suy giảm miễn dịch do suy dinh dưỡng.
Tăng áp lực tĩnh mạch cửa với biểu hiện xuất huyết dạ dày ruột trầm trọng.

Để phòng ngừa bệnh gan cho trẻ cần cho trẻ tiêm vaccine phòng viêm gan B ngay khi trẻ lọt lòng mẹ.
5. Điều trị bệnh gan trẻ em
Tuỳ thuộc vào trẻ, mức độ bệnh, tổn thương gan ở giai đoạn nào mà các bác sĩ sẽ chỉ định điều trị cho phụ hợp. Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Mục tiêu của điều trị là để ngăn chặn tổn thương cho gan, giúp giảm bớt các triệu chứng, ngăn chặn sự lây lan của bệnh viêm gan do virus.
Có thể dùng thuốc để kiểm soát ngứa, điều trị virus hoặc kiểm soát một bệnh tự miễn dịch. Bên cạnh đó, cần có chế độ chăm sóc hỗ trợ để giúp cho trẻ có chế độ ăn uống hợp lý và nghỉ ngơi đầy đủ. Với những bệnh nhân suy gan giai đoạn cuối, có thể được cân nhắc ghép gan.
6. Lời khuyên thầy thuốc
Để phòng ngừa bệnh gan cho trẻ cần cho trẻ tiêm vaccine phòng viêm gan B ngay khi trẻ lọt lòng mẹ. Với trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm virus viêm gan B thì cần được tiêm thuốc dự phòng ngay khi mới sinh theo chỉ định của thầy thuốc. Với trẻ dưới 6 tháng tuổi, cần cho trẻ bú hoàn toàn sữa mẹ. Sữa mẹ đã được phát hiện chứa nhiều loại kháng thể để chống lại các virus. Do vậy, những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có thể phòng ngừa được nhiều bệnh một cách hiệu quả.
Với trẻ lớn hơn cần cho trẻ ăn đủ chất dinh dưỡng, đủ các nhóm thực phẩm. Mẹ cần chuẩn bị cho con khẩu phần ăn chứa nhiều chất dinh dưỡng khác nhau như đạm, tinh bột, chất béo, vitamin và khoáng chất cần thiết.
Môi trường sống của trẻ cần được vệ sinh sạch sẽ, tránh xa nguồn bệnh. Năng cho trẻ vận động ngoài trời để thích nghi với thời tiết và tăng khả năng phòng bệnh. Khi thấy trẻ có những dấu hiệu của bệnh thì nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa tiêu hóa gan mật để được các bác sĩ tư vấn cụ thể.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Đề phòng bệnh gan ở trẻ em.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.