Những đứa trẻ tiếp cận với rượu bia quá sớm sẽ dễ trở thành những người trưởng thành nghiện rượu cũng như sử dụng các chất gây nghiện khác trong tương lai như ma túy, thuốc lá, thuốc lắc…
ThS. Trần Quốc Bảo - Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết, có những vụ việc hết sức đau lòng xảy ra liên quan đến người trẻ tuổi sử dụng rượu bia. Mới đây nhất là vụ việc một nữ sinh lớp 10 ở Quảng Trị khi đi ăn sinh nhật bạn đã bị bạn chuốc say rồi cả nhóm nam thay nhau hãm hiếp. Khi tỉnh dậy, bé gái không biết gì, chỉ nhớ được bạn mời 2 chén rượu sau đó mê man, bất tỉnh.
Thực tế bé gái này khi có rượu vào đã không còn tỉnh táo để có thể chống cự; và khi những cậu bạn học có hơi men trong người cùng không thể kiểm soát được hành vi. Đây chỉ là một trong những hậu quả đau lòng do sử dụng đồ uống có cồn gây nên - ThS. Bảo cho hay.
Kết quả điều tra năm 2003-2008 cho thấy: Tỷ lệ sử dụng rượu bia ở thanh thiếu niên tăng 9%. Tỷ lệ nam vị thành niên/thanh niên sử dụng rượu bia là 79,9% và nữ là 36,5%. Trong đó 66,5% nam và 22% nữ vị thành niên/thanh nên đã từng bị say rượu bia.
Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong độ tuổi pháp luật không cho phép (14-17 tuổi) cao: 47,5%. Vị thành niên/thanh niên ở khu vực Tây và Đông Bắc có tỷ lệ sử dụng rượu bia cao nhất ở 2 vòng điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) năm 2003 và 2008.
Điều tra sức khỏe học sinh toàn quốc năm 2013 (điều tra trong trường học đối với học sinh lớp 8 đến lớp 12): 23,7% có uống rượu bia trong 30 ngày qua ở nam là 31,7% và nữ là 16,5%; có tới 43,8% học sinh đã từng uống rượu, bia cho biết đã uống lần đầu tiên trước 14 tuổi; 21% cho biết đã từng say.
Cũng theo kết quả điều tra SAVY 2, có tới 20,8% nam thanh niên lái xe sau khi sử dụng rượu bia bị chấn thương do tai nạn giao thông phải điều trị ít nhất 1 tuần. Ngoài ra, các vấn đề xã hội do sử dụng rượu bia như nghỉ học, đánh nhau, mâu thuẫn với gia đình, bạn bè (6,5% học sinh lớp 8-12 gặp phải); có hành vi tình dục không an toàn. Một số hậu quả so sử dụng rượu bia ở sinh viên như mất kiểm soát hành vi (51,8% ở nữ và 75,6% ở nam)…
Cần kiểm soát chặt tuổi được phép mua và uống rượu bia
Lý giải nguyên nhân tại sao người trẻ lại dễ tiếp cận rượu bia và gia tăng tỉ lệ thanh thiếu niên sử dụng rượu bia qua các năm, ThS. Bảo cho rằng, trước hết do quy định về kiểm soát tuổi được phép mua và uống rượu bia chưa được thực thi.
"Mặc dù Luật Trẻ em và một số Luật khác cấm bán rượu cho trẻ dưới 18 tuổi nhưng ở Việt Nam một đứa trẻ được bố mẹ sai đi mua bia, rượu là bình thường. Việc mọi người bán rượu, bia cho một đứa trẻ cũng không có gì là lạ"- chuyên gia cho hay.
Ngoài ra, do tính sẵn có của rượu bia và giá lại rẻ. Rất nhiều gia đình có thói quen tích trữ sẵn rượu, bia-đặc biệt là các loại rượu nấu, rượu ngâm. Vì thế, trẻ muốn sử dụng cũng dễ dàng có được. Hơn nữa, rượu, bia có giá khá rẻ, dễ mua, thuận tiện. Ở bất cứ cửa hàng tạp hóa nào cũng đều bán loại đồ uống mang tính “phổ thông” này.
Yếu tố nữa là do môi trường và quan niệm xã hội sai lệch về vai trò của rượu bia. Nhiều người cho rằng đàn ông phải biết uống rượu bia mới thể hiện được “bản lĩnh đàn ông”; do vai trò giáo dục, quản lý, làm gương của cha mẹ. Khi đứa trẻ lớn lên trong môi trường mà người lớn, bố mẹ thường xuyên uống rượu, bia thì chúng sẽ coi đó là điều bình thường. Và hiển nhiên, đó cũng là những “hình mẫu” để chúng học tập, hướng đến trong tương lai.

Tuyệt đối không cho trẻ nhỏ uống rượu bia, dù là thử nhấp môi. Ảnh minh họa.
Quảng cáo rượu bia nhiều, giới trẻ dễ bị thu hút với quảng cáo nhất
Các chuyên gia cho rằng, việc quảng cáo rượu bia cũng là một trong số những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng trẻ vị thành niên/thanh niên sử dụng rượu, bia trong thời gian qua. Đặc biệt rượu bia thường xuyên được quảng cáo trên truyền hình trong khung “giờ vàng” đã tác động đến hành vi tiêu thụ của giới trẻ.
Nghiên cứu sử dụng rượu bia tại Việt Nam do trường ĐH Y tế công cộng tiến hành năm 2015 cho thấy: So với các nhóm tuổi khác, thanh/thiếu niên là đối tượng nhạy cảm và dễ bị thu hút với quảng cáo nhất - đặc biệt là các hình thức quảng cáo trên ti vi/phim ảnh, online, trên mạng xã hội.
“Kiểm soát quảng cáo khuyến mại rượu bia vô cùng quan trọng trong việc hạn chế sử dụng rượu bia ở trẻ em. Phải quản lý bia vì 95% lượng tiêu thụ đồ uống có cồn tại Việt Nam là bia… Cần tạo môi trường lành mạnh, gồm cả các chế tài nhằm bảo vệ người trẻ tuổi, đặc biệt thanh/thiếu niên trước việc sử dụng rượu bia ngoài ý muốn” - ông Trần Quốc Bảo cho hay.
Việt Nam hiện chưa có quy định về hạn chế quảng cáo bia. Cùng một lượng cồn nguyên chất thì bia, rượu vang và rượu mạnh đều gây ra tác hại tương đương nhau nhưng pháp luật hiện hành chỉ cấm quảng cáo rượu vang và rượu mạnh với độ cồn từ 15% trở lên. Và cũng chưa có quy định về tài trợ hoặc trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp bia.
Rượu bia được quảng cáo/tiếp thị với kỹ thuật quảng cáo và quảng bá ngày càng tinh vi như gắn nhãn hiệu rượu bia với các hoạt động văn hóa thể thao, tài trợ, trưng bày sản phẩm, với các hình thức tiếp thị mới qua phương tiện truyền thông xã hội (như thư điện tử, tin nhắn và podcasting) và các phương tiện truyền thông khác.
Việc truyền tải thông điệp tiếp thị rượu bia xuyên biên giới quốc gia và hệ thống tư pháp trên các kênh như truyền hình vệ tinh, Internet và việc ngành công nghiệp tài trợ cho các sự kiện văn hóa, thể thao đang trở thành mối quan ngại sâu sắc tại một số quốc gia.
Nghiên cứu ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình cho thấy, tăng cường hạn chế quảng cáo tiếp thị rượu bia, đặc biệt là bia, làm giảm được tổng lượng uống và lượng uống trung bình thường xuyên. Có thể giảm 3% lượng uống khi tăng thêm mức chặt chẽ trong quy định hạn chế quảng cáo tiếp thị rượu bia trên 4 kênh truyền thông (truyền hình quốc gia, đài phát thanh quốc gia, báo in vàbảng quảng cáo).
Nghiên cứu ở 17 quốc gia với thời gian theo dõi trong 13 năm cho thấy so với các quốc gia không áp dụng cấm quảng cáo rượu bia trên đài phát thanh và truyền hình, tỷ lệ tiêu thụ rượu bia ở quốc gia cấm các hình thức quảng cáo này thấp hơn 11% và tỷ lệ tai nạn giao thôngcũng thấp hơn 23%.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.