Có nhiều phụ nữ muốn sinh thường mà không cần đến thuốc giảm đau, nhưng lại thấy vô cùng khó khăn, vì vậy cuối cùng họ vẫn yêu cầu một liều giảm đau bằng cách tiêm thuốc vào khoang màng ngoài cứng phía dưới gốc cột sống. Sau khi tiêm, thuốc chỉ có tác dụng hạn chế cơn đau, người phụ nữ vẫn tỉnh táo và vẫn chủ động trong quá trình sinh đẻ.
Tuy nhiên thì phương pháp này có một nhược điểm:Thuốc gây tê ngoài màng ngoài cứng làm chậm ca sinh, khiến quá trình rặn đẻ diễn ra dài hơn và khó hơn bởi vì người phụ nữ đã bị giảm cảm giác ở phần dưới cơ thể do tác dụng của thuốc gây tê. Mặc dù lượng thuốc tê đưa vào người là rất ít nhưng một số bệnh viện vẫn sẽ không để người phụ nữ đi lại một khi đã tiêm thuốc.
Một nghiên cứu nhỏ đã được công bố trên tạp chí Sức khỏe sinh sản ở Hoa Kì đã nói rằng phụ nữ mang thai có thể làm giảm liều thuốc gây tê ngoài màng cứng từ trước khi sinh. Nghiên cứu được thực hiện trên 71 phụ nữ mang thai trước tuần thứ 20 của thai kì. Những phụ nữ này đều không có thói quen tập thể dục thường xuyên.
Những nhà nghiên cứu đã chỉ định ngẫu nhiên 34 phụ nữ và để họ tham gia một khóa tập aerobic dưới nước, tập 50 phút trong 3 ngày/tuần. 37 phụ nữ còn lại trong nhóm nghiên cứu thì không tập gì cả.
Bài tập aerobic cường độ nhẹ không có bất kì một ảnh hưởng nào lên thời gian hay hình thức sinh đẻ mà người phụ nữ sẽ trải qua. Tuy nhiên có một sự khác biệt ấn tượng trong vấn đề yêu cầu tiêm thuốc tê giảm đau giữa những người phụ nữ này. Trong số những người không tập aerobic, 2/3 phụ nữ yêu cầu tiêm thuốc gây tê màng ngoài cứng để giảm đau khi sinh. Nhưng trong số những phụ nữ tham gia tập, chỉ có 27% người yêu cầu thuốc.
Mặc dù qui mô của nghiên cứu chưa lớn nhưng những nhà nghiên cứu đã đưa ra lưu ý rằng tập aerobic dưới nước sẽ giúp bà mẹ mang thai chuẩn bị tốt hơn cả về thể chất và tinh thần cho cuộc “vượt cạn”. Vấn dề lớn nhất nảy sinh trong nghiên cứu đó là khoảng 1/3 phụ nữ trong nhóm tập aerobic đã phải bỏ dở việc tham gia lớp tập ở một số thời điểm bời vì thời gian không cho phép, do khó khăn trong chăm sóc con cái và một số vấn đề khác khiến họ rất khó khăn trong việc tham gia khóa tập.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!