Bộ gene người là tất cả vật liệu di truyền của một người được di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bộ gene chứa các gene, các gene được cấu tạo bởi một chất hóa học được gọi là AND. Các gene được đóng gói trong nhiễm sắc thể, nhiễm sắc thể nằm trong nhân tế bào, mỗi nhân tế bào có 23 cặp nhiễm sắc thể.
Chiều dài AND tương đương 107,8 tỷ km
Là chiều dài tính theo mét của AND từ một trong các tế bào của bạn khi từng chuỗi được tháo xoắn và xếp nối đuôi nhau. Nếu làm như thế với tất cả AND trong cơ thể sẽ tạo thành sợi có chiều dài tương đương 107,8 tỷ km, bằng với 150.000 chuyến du hành khứ hồi đến mặt trăng.
Hệ gene có khoảng 20.000 gene
Là số lượng gần đúng của các gene trong hệ gene của con người. Gene của chúng ta cung cấp cho các tế bào thông tin về cách tạo ra protein. Theo ước tính của các nhà khoa học, con người có thể sản xuất gần 100.000 phân tử protein, do đó, họ cho rằng số gene của con người cũng nhiều như thế.
Ngày nay, các nhà khoa học biết rằng một số gene có chứa mã để tổng hợp nhiều loại protein. Số lượng gene của bộ gene khác nhau từ loài này sang loài khác. Sinh vật phức tạp hơn có xu hướng có nhiều gene. Vi khuẩn có vài trăm đến vài nghìn gene, chuột cũng có khoảng 20.000 gene; giun tròn khoảng 19.000 gene, nấm men có khoảng 6000 gene, vi khuẩn lao là 4000.
Con người còn có 37 gene “khác”
Đây là số lượng của các gene trong bộ gene “khác” của chúng ta hay còn gọi là gene ti thể. Ti thể là các nhà máy điện của tế bào và chức năng của chúng là tham gia vào việc tạo ra năng lượng tế bào. Chúng đã thiết lập riêng một bộ gene chuyên biệt vì được cho là tiến hóa từ vi khuẩn bị chôn vùi bởi các tế bào nhân chuẩn (tế bào có chứa một hạt nhân) khoảng 1,5 tỷ năm trước, trong thời kỳ tiền Cambri.
“Ký tự” di truyền có 3,2 tỷ cặp
3,2 tỉ là số cặp base – hoặc cặp “ký tự” di truyền – tạo nên bộ gene của con người. Nếu liệt kê hết tất cả những ký tự này, một người phải gõ 60 từ mỗi phút, 8 giờ 1 ngày và trong khoảng 50 năm để đọc hết các phân tử AND của cơ thể mình. Tuy nhiên, loài cá phổi cẩm thạch (tên tiếng Anh là Protopterus aethiopius) mới là loài có số cặp base nhiều nhất - khoảng 133 tỷ cặp base trong hệ gene của chúng.
AND của 2 người lạ giống nhau đến 99,6%
AND của hai người bất kỳ trên trái đất giống nhau đến 99,6%. Nhưng khác nhau 0,4%, sự khác nhau này đại diện cho khoảng 12 triệu cặp base, điều này giúp lý giải sự khác nhau giữa các cá thể, đặc biệt nếu sự thay đổi nằm ở các gene chủ chốt. Môi trường sống của chúng ta cũng tạo nên sự khác biệt. Ngoài ra, bộ gene người giống 7% các vi khuẩn E.coli, 21% với sâu, 90% với chuột và 98% với tinh tinh.
Gene người được điều khiển chỉ chiếm 1/3
Đây là tỷ lệ ước tính của gene người được điều khiển bởi các microRNA. Những “micromanagers” di truyền chỉ chứa khoảng 22 đơn vị ARN gọi là nucleotide nhưng chúng có thể ngăn chặn một gene sản xuất protein mà nó mã hóa. Các nhà khoa học đã xác định được hàng trăm microRNA ở người và mối liên hệ giữa sự đổ vỡ ở một số chúng với một số loại ung thư.
AND khác chiếm 98%
Hơn 98% bộ gene của chúng ta là các AND không mã hóa – đồng nghĩa với việc AND này không chứa thông tin để tạo ra các protein. Chỉ có khoảng 2% của gene mã hóa protein. Ngày nay, các nhà khoa học phát hiện vai trò của các “AND rác” này giúp tổ chức AND trong nhân tế bào và giúp bật hoặc tắt các gene mã hóa protein.
Nhiễm sắc thể trong nhân người Down là 47
Hầu hết tế bào của con người có 46 nhiễm sắc thể, nhưng đôi khi, trong quá trình phân chia tế bào xảy ta một số trục trặc sẽ cho ra kết quả là quá ít hoặc quá nhiều nhiễm sắc thể. Khi điều này xảy ra, trong các tế bào trứng hoặc tinh trùng, đứa trẻ có thể có một số bất thường nhiễm sắc thể. Người mắc hội chứng Down có thêm một bản sao của nhiễm sắc thể 21, một trong các nhiễm sắc thể nhỏ nhất trong hệ gene.
Bộ gene người được khám phá vào năm 1953
Ngày 28/2/1953, hai nhà khoa học Francis Crick và James Watson đã tìm ra cấu trúc của AND. Cấu trúc đó là một “xoắn kép” có thể “giải nén” riêng thành hai sợi dài để làm các bản sao của chính nó. Watson và Crick được nhận giải thưởng Nobel năm 1962 cho khám phá này.
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.