Có rất nhiều nguyên nhân gây nên tình trạng khô âm đạo, từ các yếu tố về mặt sinh lý như thay đổi hormone hoặc tác dụng phụ của thuốc, cho đến các rối loạn cảm xúc và tâm lý như thiếu ham muốn hay lo âu. May mắn là cũng có nhiều cách làm giảm khô âm đạo, nhiều như các nguyên nhân gây ra tình trạng này vậy.
Trong một cuộc khảo sát hơn 800 phụ nữ về các vấn đề về sức khỏe sinh sản, thì khô âm đạo là một trong số những vấn đề về sức khỏe sinh sản hàng đầu mà 2/3 số phụ nữ trên 60 tuổi liệt kê ra. Kết quả này đã được công bố trên tạp chí Journal of Women’s Health vào tháng 8 năm 2015. Tuy nhiên, khô âm đạo cũng có thể là một vấn đề đáng lo ngại của những phụ nữ dưới 60 tuổi.
Nguyên nhân gây khô âm đạo
Bước đầu tiên trong việc điều trị khô âm đạo là tìm ra nguyên nhân của cảm giác khó chịu này, đặc biệt là khi khô âm đạo gây ra cảm giác đau khi quan hệ. Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng khô âm đạo, bao gồm:
Thay đổi hormone: Một trong số các nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng khô âm đạo là suy giảm lượng hormone estrogen trong quá trình mãn kinh hoặc tiền mãn kinh, sau khi sinh hoặc trong khi cho con bú (theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ). Các phương pháp điều trị ung thư như hóa trị hoặc xạ trị tại vùng chậu cũng có thể dẫn đến suy giảm estrogen và giảm độ ẩm ở âm đạo.
Thiếu ham muốn: Trong một số trường hợp, khô âm đạo có thể là do thiếu ham muốn hoặc gặp vấn đề về tình dục với bạn tình. Nếu bạn tình xuất tinh sớm hoặc không thể hiện tốt cũng có thể dẫn đến tình trạng khô âm đạo.
Các chất kích thích: Các chất hóa học có trong xà phòng, các sản phẩm vệ sinh, thuốc nhuộm và nước hoa có thể là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Rất nhiều phụ nữ bị dị ứng với các loại chất tẩy rửa và xà phòng. Những loại chất này có thể còn dư trong khăn tắm hoặc quần lót. Các tác nhân gây dị ứng khác có thể là do các chất bôi trơn hoặc các đồ vật được đặt vào bên trong âm đạo.
Lo âu: Các yếu tố về mặt tâm lý và cảm xúc như stress và lo âu có thể làm cản trở đến ham muốn tình dục và dẫn đến tình trạng khô âm đạo. Khi người phụ nữ lo lắng, sẽ không có đủ lượng máu đến âm đạo, do đó, họ sẽ bị khô âm đạo.
Dự phòng và điều trị khô âm đạo
Điều trị khô âm đạo phụ thuộc vào nguyên nhân. Theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, những người phụ nữ bị khô âm đạo do thay đổi hormone có thể sẽ thấy tình trạng cải thiện nếu sử dụng liệu pháp thay thế hormone.
Trong một số trường hợp, bác sỹ có thể sẽ kê một số phương pháp điều trị tại chỗ như đưa estrogen vào âm đạo. Phương pháp điều trị estrogen tại chỗ là phương pháp sẽ đưa estrogen vào âm đạo dưới dạng vòng âm đạo, dạng viên đặt hoặc dạng kem, có tác dụng bổ sung thuốc cho toàn cơ thể, và do đó có thể làm tăng lượng estrogen một cách hệ thống. Với một số phụ nữ khác, đặc biệt là những phụ nữ có các triệu chứng đi kèm như bốc hỏa, thì có thể sử dụng các loại thuốc đường uống hoặc các miếng dán ngoài da có tác dụng giải phóng estrogen trên toàn cơ thể. Trong những trường hợp khác, cả 2 biện pháp trên có thể được áp dụng cùng lúc để điều trị chứng khô âm đạo hiệu quả hơn.
Sử dụng các chất bôi trơn: Có rất nhiều các chất bôi trơn có tác dụng điều trị khô âm đạo. Các chất này có thể có bản chất là silicone, dầu hoặc nước. Các chất bôi trơn thường được sử dụng để làm cho việc quan hệ tình dục trở nên dễ chịu hơn, chứ không nhằm tác dụng giữ được độ ẩm của âm đạo trong thời gian dài.
Sử dụng các chất làm ẩm: Các chất làm ẩm âm đạo không cần kê đơn có thể là một cách hiệu quả để hạn chế tối đa tình trạng khô âm đạo trong vài ngày với chỉ một lần sử dụng. Các chất làm ẩm này có thể sẽ giúp hình thành nước trong các mô của âm đạo.
Khô âm đạo là một tình trạng phổ biến và gây ra nhiều rắc rối, những có nhiều cách làm giảm được cảm giác khó chịu này. Nếu khô âm đạo gây ra cảm giác đau khi quan hệ, bạn nên trao đổi với bác sỹ về tất cả các phương pháp điều trị có thể áp dụng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 7 cách để giải quyết tình trạng khô âm đạo
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.