Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Xử trí cấp cứu chảy máu mũi

Niêm mạc mũi có một mạng lưới mao mạch dày đặc, nổi rất nông để thực hiện chức năng làm ấm và làm ẩm không khí trước khi vào phổi.

Niêm mạc mũi có một mạng lưới mao mạch dày đặc, nổi rất nông để thực hiện chức năng làm ấm và làm ẩm không khí trước khi vào phổi. Do đó, chỉ cần một chấn thương nhẹ như ngoáy mũi hoặc va quyệt nhẹ đã có thể gây chảy máu mũi. Mùa hanh lạnh niêm mạc mũi dễ bị nứt nẻ gây chảy máu.

Chấn thương và bệnh lý gây chảy máu mũi

Mạch máu cung cấp cho lưới mao mạch mũi gồm: động mạch cảnh ngoài với các nhánh động mạch bướm khẩu cái, động mạch khẩu cái lên; động mạch cảnh trong với các nhánh động mạch sàng trước, động mạch sàng sau.

Các nhánh động mạch này quy tụ tại một điểm ở phía trước và dưới vách ngăn, cách cửa mũi trước khoảng 1,5cm, gọi là điểm mạch Kisselbach. Nếu va chạm vào điểm mạch này, thường gây chảy máu nặng.

Cúi đầu ra trước để máu chảy ra ngoài.

Chấn thương như tai nạn lao động, tai nạn giao thông, bị đánh... Bệnh nhân mắc các bệnh: tăng huyết áp, bạch cầu tuỷ cấp, suy tuỷ, bệnh ưa chảy máu, sốt xuất huyết, suy gan, suy thận...

Nhận biết chảy máu mũi nặng nhẹ

Các nhà chuyên môn phân biệt các loại chảy máu mũi gồm: chảy máu điểm mạch Kisselbach; chảy máu do tổn thương động mạch; chảy máu lan tỏa do tổn thương mao mạch, máu rỉ khắp niêm mạc mũi, không có điểm nhất định thường xuất hiện trong các bệnh bạch cầu tuỷ cấp, bệnh ưa chảy máu, thương hàn, sốt xuất huyết. Mặt khác, dựa vào mức độ chảy máu, người ta đánh giá tình trạng chảy máu mũi theo 3 mức độ: nhẹ, vừa và nặng.

Chảy máu mũi nhẹ: thường do chấn thương nhẹ khi ngoáy mũi hoặc mắc các bệnh như cúm, thương hàn... Tuy nhiên cũng có khi ở người khoẻ mạnh nhưng tự nhiên bị chảy máu mũi. Soi mũi thấy máu chảy ra từ điểm mạch hoặc động mạch, mức độ không nhiều, chảy từng giọt, số lượng ít hơn 100ml và có xu hướng tự cầm. Loại chảy máu này thường gọi là chảy máu cam, hay gặp ở trẻ em, tiên lượng nhẹ.

Chảy máu mũi vừa: máu chảy thành dòng ra ngoài lỗ mũi hoặc chảy xuống họng, số lượng từ 100 - 200ml. Có thể do chảy máu mao mạch của toàn bộ niêm mạc mũi, gặp ở bệnh ưa chảy máu, xuất huyết giảm tiểu cầu.

Chảy máu mũi nặng: do tổn thương động mạch mũi trong các bệnh tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, xơ gan... máu chảy nhiều thành dòng kéo dài, bệnh nhân trong trạng thái kích thích, hốt hoảng, môi mặt xanh nhợt, mạch nhanh, huyết áp hạ, số lượng máu mất nhiều hơn 200ml hay gặp ở bệnh nhân lớn tuổi có bệnh mạn tính; hoặc chấn thương gây tổn thương động mạch sàng và thường chảy máu khó cầm. Soi mũi: rất khó thấy điểm chảy vì điểm chảy thường ở trên cao và ở phía sau, nhưng lượng máu chảy ra nhiều.

Xử trí cấp cứu chảy máu mũi

Gặp một bệnh nhân đang chảy máu mũi, việc cần làm là phải cầm máu ngay. Bệnh nhân cần ngồi cúi người ra trước để tránh máu chảy vào trong họng. Trường hợp chảy máu nặng phải chú ý tình trạng toàn thân của bệnh nhân bằng cách theo dõi sát mạch, huyết áp. Việc cầm máu được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp như sau:

Nếu chảy máu mũi nhẹ: chảy máu ra từ điểm mạch, người cấp cứu dùng hai ngón tay bóp hai cánh mũi lại vừa chặt tay để cho điểm Kisselbach được ép lại cầm máu. Dùng bông có tẩm dung dịch cầm máu như ôxy già 12 thể tích, ephedrin 1-3% nhét vào lỗ mũi, ép đè lên chỗ chảy máu .

Trường hợp chảy máu nặng: sử dụng phương pháp nhét mechè mũi trước hoặc mũi sau.

Nhét mechè mũi trước: gây tê hốc mũi bằng Lidocain, dùng cuộn mechè có bề rộng 1-1,5cm, bề dài 50cm tẩm mỡ kháng sinh nhét vào mũi, chú ý nhét mechè có hình đáy võng để mechè không bị tụt xuống thành sau họng, nhét chặt từ sau ra trước cho tới khi đầy ra tận cửa mũi trước. Dùng đè lưỡi kiểm tra xem máu có chảy xuống thành sau họng hay không, nếu không thấy chảy xuống là tốt. Thời gian lưu mechè từ 24 - 48 giờ.

Đối với trường hợp chảy máu nhiều do chấn thương, tăng huyết áp...nếu nhét mechè mũi trước mà chưa cầm máu thì phải nhét mechè mũi sau. Cách nhét mechè mũi sau: dùng cục gạc bịt kín cửa mũi sau để ngăn không cho máu chảy xuống thành sau họng, đường kính cục gạc khoảng 2-2,5cm, chiều cao 2,5cm có buột dây ở giữa, mỗi đầu dài khoảng 30cm. Sau khi bịt kín được cửa mũi sau, phải tiếp tục nhét mechè mũi trước. Lưu mechè mũi sau từ 48-72 giờ, trong thời gian này phải điều trị kháng sinh để chống nhiễm khuẩn.

Trường hợp chảy máu mao mạch, nhất là ở trẻ em, có thể dùng các loại protein tự tiêu có tác dụng cầm máu như spongel. Nếu có điều kiện thì dùng merocel là một loại bọt xốp có hình hố mũi, đặt vào mũi, tưới nước, nó nở căng to ôm khít lòng hố mũi, máu cầm ngay mà bệnh nhân không đau. Hoặc dùng bong bóng cao su cho vào mũi rồi bơm căng, lúc lấy ra chỉ cần xì hơi, rất tiện. Ở nước ta, nhiều bệnh viện đã dùng đông điện dưới sự hướng dẫn của nội soi để cầm máu.

Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, ngồi hoặc nằm đầu cao, há miệng để thở và nhổ máu ra. Truyền dịch nếu bệnh nhân bị truỵ mạch, hạ huyết áp.

Truyền máu nếu Hb dưới 50%, tốt nhất là truyền máu tươi liều nhỏ (100ml) nhiều lần. Dùng thuốc corticoid như depersolone tiêm tĩnh mạch trong chảy máu, nếu không có chống chỉ định. Dùng kháng sinh đề phòng nhiễm khuẩn. Dùng thuốc đông máu để làm tăng vững bền thành mạch, giảm thời gian chảy máu như adrenoxyl, premarin, tranesamic acid... hoặc trực tiếp làm đông máu như vitamin K...

BS. Ninh Hồng - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 07/10/2026

    Sự gia tăng của bệnh cúm mùa đông: Góc nhìn khoa học và cẩm nang bảo vệ sức khỏe

    Khi những cơn gió lạnh đầu mùa ùa về và ngày dần ngắn lại, chúng ta không chỉ đón nhận sự thay đổi của thời tiết mà còn phải đối mặt với sự gia tăng đột biến của các ca mắc cảm cúm. Virus cúm, hay còn gọi là influenza, dường như luôn chọn mùa đông làm thời điểm "vàng" để bùng phát, mang theo hàng loạt triệu chứng khó chịu như sốt cao, đau nhức toàn thân và các vấn đề về đường hô hấp. Tại sao loài virus này lại phát triển mạnh mẽ và lây lan nhanh chóng đến vậy khi nhiệt độ xuống thấp? Bài viết này sẽ đi sâu vào những cơ sở khoa học giải thích cho sự bùng phát của bệnh cúm vào mùa đông, từ đó cung cấp các biện pháp phòng ngừa thiết thực để bảo vệ sức khỏe cho bạn và gia đình.

  • 07/10/2026

    9 lợi ích sức khỏe của việc bơi lội

    Bơi lội là môn thể thao toàn thân được nhiều người yêu thích nhờ khả năng vừa rèn luyện thể lực vừa giúp thư giãn tinh thần. Với cùng một khoảng thời gian vận động, bơi lội có thể tiêu hao lượng calo tương đương chạy bộ nhưng lại ít gây áp lực lên xương khớp hơn.

  • 06/10/2026

    Thực phẩm chức năng hỗ trợ giảm cholesterol có thực sự hiệu quả?

    Trên thị trường hiện có nhiều loại thực phẩm chức năng được quảng cáo với công dụng hỗ trợ giảm cholesterol máu, thu hút sự quan tâm của người có rối loạn lipid máu.

  • 06/10/2026

    Thuốc GLP-1 có thể giúp làm chậm quá trình lão hóa?

    Các thuốc nhóm GLP-1 như semaglutide hiện được kê đơn chủ yếu để điều trị đái tháo đường type 2 và béo phì.

  • 05/10/2026

    7 lầm tưởng về thuốc Aspirin

    Aspirin từng được xem là thần dược trong phòng ngừa bệnh tim mạch, tuy nhiên hiện nay y học đã có những góc nhìn thay đổi về loại thuốc này. Dưới đây là 7 lầm tưởng phổ biến về thuốc Aspirin được các chuyên gia y tế khuyến cáo.

  • 05/10/2026

    Ly thượng bì bọng nước

    Bệnh ly thượng bì bọng nước (epidermolysis bullosa) là một tình trạng hiếm gặp gây ra hiện tượng da mỏng, dễ nổi mụn nước ở trẻ nhỏ. Bệnh lý này có thể gây khó chịu cho trẻ và có thể trở nặng nếu không được chăm sóc đúng cách. Cùng tìm hiểu qua bài viết sau!

  • 04/10/2026

    FDA phê duyệt 4 loại vaccine cập nhật cho 2026-2027 nhắm vào biến thể XFG của COVID-19

    Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) vừa chính thức phê duyệt bốn loại vaccine COVID-19 cập nhật cho năm 2026–2027. Các loại vaccine mới này đặc biệt nhắm vào biến thể XFG đang lây lan nhanh chóng, nhằm tăng cường bảo vệ cho những nhóm đối tượng có nguy cơ cao.

  • 04/10/2026

    Thời điểm tốt nhất để ăn quả óc chó tốt cho não bộ

    Ăn quả óc chó vào buổi sáng giúp tối ưu hóa hiệu suất nhận thức và hỗ trợ bảo vệ sức khỏe não bộ.

Xem thêm