Đây là bệnh phải xử trí bằng ngoại khoa, do đó, các bậc cha mẹ khi phát hiện các dấu hiệu bệnh cần phải được khám và chỉ định điều trị tại các chuyên khoa nhi.
Trước khi tới bệnh viện để khám bệnh, gia đình thường phát hiện có một khối phồng ở vùng bẹn, bìu với trẻ trai và vùng mu - môi lớn ở trẻ gái. Khối phồng này thường có từ nhỏ, có thể có ngay sau đẻ.
Khối phồng này to lên khi trẻ ho, khóc, chạy nhảy và thường tự mất khi nằm yên, khi ngủ. Trẻ thường được đưa đi khám ở tình trạng đau, nôn, khối thoát vị không lên được.
Nắn vào vùng ống bẹn - bìu để tìm túi thoát vị: sờ được túi thoát vị, bảo bệnh nhân ho, chạy nhảy thì bao thoát vị lại căng, to và chuyển động dọc theo ống bẹn xuống bìu.
Trong túi thoát vị có chứa một khối mềm, nắn không đau có khi nghe thấy tiếng lọc xọc của hơi và dịch trong lòng ruột. Có thể đẩy túi thoát vị vào ổ bụng được (bên trong túi thoát vị có mạc nối lớn hoặc ruột hoặc buồng trứng ở trẻ gái).
Cũng có khi không đẩy túi thoát vị vào ổ bụng được và bệnh nhân đau vùng ống bẹn, kèm theo có thể nôn, bụng trướng, không trung, đại tiện bởi thoát vị bẹn bị nghẹt.
Bằng khám lâm sàng đơn thuần, có thể phân biệt được với một số bệnh khác như: Xoắn tinh hoàn, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tấy vùng ống bẹn - bìu, nang thừng tinh khi nang ở vị trí cao, tràn dịch màng tinh hoàn, u mỡ… là những bệnh cũng hay gặp ở vùng bẹn - bìu và phải chữa trị.
Thoát vị bẹn 2 bên ở trẻ gái: cần phải làm nhiễm sắc thể giới tính hoặc gene biệt hoá tinh hoàn để xác định giới tính thật của bệnh nhân.
Nếu nhiễm sắc thể giới tính là 46 XY hoặc gene biệt hoá tinh hoàn dương tính thì phải khám toàn diện để xác định đây là nam lưỡng giới giả ở hội chứng không nhạy cảm với Androgen hay hội chứng tinh hoàn nữ hoá (ngoại hình và bộ phận sinh dục ngoài trông như nữ, nhưng âm đạo ngắn, không có tử cung, không có buồng trứng mà có 2 tinh hoàn trong ổ bụng hoặc ống bẹn).
Bệnh nhân là nam nhưng trông như nữ và thường được đặt tên con gái. Nếu vì điều kiện không làm được nhiễm sắc thể giới tính thì khi mổ chữa, bắt buộc phải kiểm tra tuyến sinh dục là tinh hoàn hay buồng trứng.
Nam giới có tử cung: phát hiện lúc mổ mở bao thoát vị. Cần phải thăm dò cơ quan sinh dục trong, làm các xét nghiệm nội tiết, nhiễm sắc thể giới tính.
Nghẹt hoại tử ruột: Khoảng 20% số bệnh nhân có thể bị nghẹt ruột ở bất kỳ tuổi nào, nhưng thường bị ở trẻ nhỏ và khoảng 60% số bị thoát vị nghẹt hay xảy ra trong 3 tháng đầu sau đẻ; Rối loạn tiêu hoá, gây chậm lớn ở trẻ nhỏ;
Bệnh còn là yếu tố thuận lợi gây xoắn tinh hoàn, teo tinh hoàn, nghẹt bó mạch thừng tinh gây hoại tử tinh hoàn. Nhiều gia đình bệnh nhân biết con mình có bệnh nhưng nghĩ bệnh sẽ tự khỏi khi trẻ lớn lên.
Chúng tôi đã mổ nhiều trường hợp bệnh nhân tới khám chữa muộn khi bị nghẹt ruột, có trường hợp bị hoại tử ruột và có bệnh nhân bị nghẹt hoại tử cả tinh hoàn cùng bên.
Khi đã có chẩn đoán là thoát vị bẹn cần được phẫu thuật. Nếu chưa mổ ngay được thì làm băng ép bên bị thoát vị và mổ sớm theo chương trình như bán cấp cứu. Với kỹ thuật mổ hiện nay, bệnh nhân sẽ có được vết mổ nhỏ, nằm theo nếp lằn bụng dưới nên thẩm mỹ đẹp. Thời gian nằm viện điều trị trung bình là 2 ngày.
Lời khuyên của thầy thuốc
Khi phát hiện thấy các khối u vùng bẹn, bẹn - bìu ở trẻ trai hoặc bẹn - môi lớn ở trẻ gái phải nghĩ tới bệnh - tật do còn tồn tại ống phúc tinh mạc và tới khám tại các chuyên khoa phẫu thuật nhi. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ sinh thiếu tháng nên các bậc cha mẹ cần đặc biệt chú ý hơn ở những trẻ này.
Quan niệm bệnh 'Không sao cả, bệnh sẽ khỏi khi trẻ lớn lên' là quan điểm sai lầm. Cũng không nên chờ trẻ lớn mới phẫu thuật mà ngược lại, trẻ cần được mổ càng sớm càng tốt.
|
Theo các thống kê thì từ 2-5% số trẻ em bị thoát vị bẹn và tràn dịch màng tinh hoàn. Tỷ lệ mắc bệnh cao ở trẻ thiếu tháng. Trẻ trai mắc nhiều hơn trẻ gái với tỷ lệ Nam/Nữ là 9/1. Bệnh bị ở bên phải khoảng 60%, ở bên trái 25%, ở cả hai bên 15%. Khoảng 6% số bệnh nhân bị thoát vị bẹn bị dị tật ẩn tinh hoàn kèm theo. |
Những thành tự nghiên cứu về Bộ gen người vào năm 2003 đã mở ra cánh cửa hiểu biết sâu rộng về di truyền con người. Tuy nhiên, bộ mã DNA không thể giải thích được toàn bộ sự phức tạp về sức khỏe và bệnh tật của từng cá nhân. Di truyền ngoại gen (hay còn gọi là Epigenetic) là một lĩnh vực nghiên cứu các thay đổi trong biểu hiện gen mà không làm thay đổi trình tự DNA. Đây hiện đang là một chủ đề được bàn tán nhiều trong những năm gần đây khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe cá nhân ngày càng gia tăng.
Nước ép bưởi mang lại nhiều lợi ích như cấp nước, hỗ trợ tiêu hóa và giảm nguy cơ bệnh. Tuy nhiên, loại đồ uống này cũng tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt với một số đối tượng cần thận trọng khi sử dụng thường xuyên.
Dâu tằm là loại quả dân dã nhưng giàu dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào có lợi cho sức khỏe, nhất là với một số nhóm người cụ thể.
Trầm cảm kháng trị xảy ra khi các triệu chứng của một người không cải thiện sau khi đã thử ít nhất hai loại thuốc chống trầm cảm khác nhau. Một nghiên cứu gần đây đã điều tra tác động của chế độ ăn ketogenic ít carbohydrate đối với người lớn mắc chứng trầm cảm kháng trị.
Dù sống ở vùng nhiệt đới ngập tràn ánh nắng, tỷ lệ thiếu hụt vitamin D ở trẻ em Việt Nam vẫn đang ở mức báo động. Được ví như "chìa khóa" cho tầm vóc và hệ miễn dịch, việc lãng quên dưỡng chất vàng này đang để lại những hệ lụy sức khỏe kéo dài đến tận tuổi trưởng thành.
Magie là một khoáng chất đa lượng thiết yếu, đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe của xương, cơ bắp và hệ thần kinh. Khi cơ thể được cung cấp đủ lượng magie, hàng loạt các chức năng sẽ được cải thiện rõ rệt.
Hạ đường huyết là tình trạng xảy ra khi mức đường huyết trong cơ thể giảm xuống quá thấp để có thể cung cấp đủ năng lượng cho các hoạt động của cơ thể.
Magie là khoáng chất quan trọng giúp điều hòa thần kinh, giảm căng thẳng và cải thiện giấc ngủ. Bổ sung thực phẩm giàu magie đúng cách, kết hợp món ăn phù hợp, có thể hỗ trợ ngủ ngon và nâng cao sức khỏe toàn diện.