Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Tìm ra đột biến gen, tăng cơ hội điều trị thành công dị dạng mạch máu

BV. Nhi Đồng 1 đã phẫu thuật xử trí các dị dạng mạch máu xâm lấn bàng quang cho bé gái 7 tuổi N.T.V (Gò Vấp, TP.HCM). Trước đó, mỗi tháng gia đình phải đưa bé đến BV. Đại học Y dược TP.HCM để chích xơ 1 - 2 lần. Mặc khác, để ngăn ngừa mạch máu phát triển bất thường, bé V. phải mang vớ y học hằng ngày.

Từ các khối u máu

Khi vừa sinh ra, bé V. cũng khỏe mạnh bình thường; nhưng có những mảng da nâu bất thường. Đến khoảng 3 tuổi, cơ thể V. bắt đầu nổi vài nốt đỏ, nhiều nhất ở nửa thân dưới, sau đó các nốt này vỡ ra chảy máu và dịch. Sau đó, bé V. đi tiểu ra máu, đau khi đi tiểu. Tại BV. Nhi Đồng 1, các bác sĩ ghi nhận nhiều máu cục xuất hiện trong bàng quang của bé, do dị dạng tĩnh mạch thành bàng quang và vùng sàn chậu. Do đó, các bác sĩ buộc phải mổ khẩn cấp để chấm dứt tình trạng xuất huyết ồ ạt. Bé V. mắc phải một trong những bệnh rất hiếm trên thế giới, gọi là hội chứng Klippel Trenaunay (rối loạn hệ mạch máu bẩm sinh, chưa rõ nguyên nhân).

Trước đó, tại Hội nghị khoa học kỹ thuật về các bệnh dị dạng mạch máu do Hội Tĩnh mạch học TP.HCM tổ chức, ThS.BS. Nguyễn Hoài Thu, Phó chủ tịch Hội Tĩnh mạch, chuyên gia u máu - BV. Đại học Y Dược TP.HCM cũng đã công bố về một ca bệnh nhi u bạch huyết hiếm gặp được điều trị thành công. Đó là bé M. K. (9 tuổi, Khánh Hòa).

BS. Thu cho biết: “K. bị bướu bạch huyết vùng sàn miệng và lưỡi bẩm sinh, gặp nhiều trở ngại trong giao tiếp, chất lượng sống và tâm lý. Nhiều năm, bé phải đeo khẩu trang vì lưỡi bành trướng, vượt qua khỏi khuôn miệng. Vì tình trạng như thế nên lưỡi lúc nào cũng khô, dễ nhiễm trùng”.

Các bác sĩ đã quyết định điều trị cho K. bằng phương pháp chích xơ làm khối bướu xơ hóa dần. Liệu trình kéo dài khoảng 1 năm, và tới nay lưỡi của K. đã thu nhỏ lại, rụt vào trong miệng. Theo bác sĩ Hoài Thu, u bạch huyết là dị tật của hệ thống bạch huyết, có thể gặp ở mọi lứa tuổi và mọi vị trí của cơ thể, hiếm gặp ở trẻ em, chiếm 4% trong các bệnh lý liên quan đến dị dạng mạch máu. 90% xảy ra ở trẻ em dưới 2 tuổi (hay gặp ở vùng đầu, cổ).

Đến dị dạng mạch máu

Trong các dị dạng mạch máu, dị dạng tĩnh mạch chiếm tỉ lệ cao nhất, là loại dị dạng phức tạp do khiếm khuyết trong quá trình hình thành tĩnh mạch, ít được hiểu biết nhất và khó điều trị nhất. Những dị dạng tĩnh mạch nhỏ đơn thuần và tập trung được điều trị khỏi hẳn bằng chích xơ hay cắt bỏ hoàn toàn. Nhưng trên lâm sàng, đa số các trường hợp là dị dạng tĩnh mạch lớn và lan tỏa trên nhiều bộ phận trong cơ thể, chiếm toàn bộ nửa mặt, nửa thân mình, xâm lấn các cơ quan xung quanh làm ảnh hưởng trầm trọng tới chức năng hô hấp, tuần hoàn và hạn chế vận động của khớp hay chi và điều trị ít hiệu quả.

BS. Thu nhận xét: “Đa phần các dị dạng tĩnh mạch lan tỏa trên diện rộng và ảnh hưởng đến chức năng của nhiều cơ quan. Biến chứng xuất huyết, huyết khối và rối loạn đông máu ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và sinh mạng của bệnh nhân. Dị dạng tĩnh mạch là loại dị dạng mạch máu bẩm sinh phức tạp, phát triển và tồn tại suốt đời, ảnh hưởng chất lượng sống của người bệnh. Dị dạng tĩnh mạch làm giới hạn cử động, ảnh hưởng thẩm mỹ, gây đau trong nhiều trường hợp, chảy máu, phá hủy mô và làm giảm chức năng trầm trọng. Nhiều trường hợp kèm theo các rối loạn đông máu và các bệnh lý mạch máu nguy hiểm đến tính mạng người bệnh. Dị dạng tĩnh mạch phải điều trị lâu dài nhưng hiệu quả điều trị lại thấp nhất trong các loại dị dạng mạch máu”.

Theo chuyên môn, dựa trên lâm sàng, các phương tiện hình ảnh học, sinh lý bệnh học, người ta đã phân loại bất thường mạch máu thành các khối u mạch máu và các dị dạng mạch máu. Dị dạng tĩnh mạch là loại dị dạng có dòng chảy thấp gồm hai loại chính là bất thường tĩnh mạch (chiếm 95%), còn lại là dị dạng mang tính chất u 5%. Dị dạng tĩnh mạch thường nằm trong các hội chứng bất thường mạch máu như hội chứng Klippel Trenauney, hội chứng Blue Nebber Bleb Nevus, hội chứng Macffuci.

Dị dạng tĩnh mạch và đột biến gen

Các nước phát triển đã báo cáo kết quả bước đầu phân lập gen gây bệnh trên chuột và người và thử nghiệm lâm sàng đối với một số loại bất thường mạch máu bằng các loại thuốc chống tạo mạch. BS. Thu khẳng định, xác định thể loại gen đột biến của dị dạng tĩnh mạch có thể giúp đáp ứng đối với điều trị nội khoa kết hợp với mổ cắt bỏ và can thiệp nội mạch, cải thiện tiên lượng điều trị.

Nhiều nghiên cứu di truyền cho biết đột biến gen TEK (còn gọi là TIE 2) là nguyên nhân gây dị dạng tĩnh mạch. Gen TEK được coi là gen cung cấp hướng dẫn tạo ra một protein gọi là thụ thể Tyrosine Kinase TEK. Thụ thể protein này gây ra các tín hiệu hóa học cần thiết cho sự hình thành các mạch máu (angiogenesis) và duy trì các cấu trúc của chúng. Quá trình truyền tín hiệu tạo điều kiện giao tiếp giữa hai loại tế bào trong thành mạch là tế bào nội mô và tế bào cơ trơn. Truyền thông giữa hai loại tế bào này cần thiết để hình thành mạch, đảm bảo cấu trúc và sự toàn vẹn của mạch máu.

Dị dạng tĩnh mạch phải điều trị lâu dài nhưng hiệu quả điều trị lại thấp nhất trong các loại dị dạng mạch máu

Đột biến TEK gây dị dạng tĩnh mạch. Một thụ thể TEK luôn hoạt động quá mức sẽ làm gián đoạn thông tin liên lạc giữa các tế bào nội mô và tế bào cơ trơn. Tuy hiện nay chưa rõ làm thế nào sự thiếu thông tin này lại gây ra dị dạng tĩnh mạch, các nhà khoa học chỉ biết rằng bất thường phát triển mạch máu là do thiếu hụt tế bào cơ trơn, các tế bào nội mô vẫn được duy trì. Sự thiếu tế bào cơ trơn gây nên dị dạng mạch máu biểu hiện bằng các tổn thương giãn tĩnh mạch, mao mạch trên bề mặt da và trong niêm mạc.

Ở Việt Nam lần đầu tiên, các bác sĩ ở Đại học Y Dược TP.HCM kết hợp với BV. Nhi Đồng 1 đã thực hiện nghiên cứu về gen đột biến gây dị dạng tĩnh mạch. BS. Nguyễn Hoài Thu cùng đồng nghiệp trong nhóm nghiên cứu tiến hành thử nghiệm gen trên 30 bệnh nhân ngẫu nhiên có dị dạng tĩnh mạch được chứng minh chẩn đoán xác định bằng kết quả lâm sàng, hình ảnh học và giải phẫu bệnh lý. Tổng số 30 bệnh nhân, từ 4 - 62 tuổi, gồm 9 nam và 21 nữ. Vị trí của dị dạng tĩnh mạch: 5 trên thân mình (16,7%), 7 ở tứ chi (23,3%), 10 ca vùng đầu mặt cổ gồm mặt, niêm mạc má và môi, lưỡi và sàn miệng (33,3%), 8 ca dị dạng mạch máu lan tỏa nhiều cơ quan (26,7%)

Bệnh nhân được thăm khám lâm sàng, thực hiện các phương tiện hình ảnh học để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ xâm lấn các cơ quan lân cận, mức độ lan tỏa của dị dạng, tìm các dị dạng mạch máu khác đi kèm, tìm các vị trí khác trên cơ thể có dị dạng mạch máu. Bệnh nhân được mổ sinh thiết lấy bệnh phẩm trực tiếp từ dị dạng tĩnh mạch làm giải phẫu bệnh lý, lấy bệnh phẩm và 2ml máu không đông để thử nghiệm gen. Nhóm theo dõi kết quả thử nghiệm gen, nếu có đột biến gen. sẽ cho bệnh nhân dùng thuốc phối hợp sau cắt bỏ diện rộng phối hợp với gây tắc bằng chích xơ nội mạch. Bước đầu họ đã xác định được loại gen đột biến gây dị dạng tĩnh mạch có ý nghĩa trong việc dùng thêm thuốc chống tạo mạch trong điều trị, với 11/30 ca phát hiện đột biến TEK.

Đột biến gen TEK là nguyên nhân gây dị dạng tĩnh mạch

Phương Khánh - Theo Sức khỏe và Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 21/08/2026

    Lợi ích vô giá của vitamin A và cách bổ sung đúng

    Bổ sung đủ vitamin A không chỉ giúp "thắp sáng" đôi mắt mà còn thiết lập một hàng rào miễn dịch vững chắc cho toàn bộ cơ thể.

  • 21/08/2026

    Mức huyết áp lý tưởng cho người lớn tuổi là bao nhiêu?

    Theo thống kê của Phân hội tăng huyết áp Việt Nam, số người bị tăng huyết áp gia tăng nhanh và ngày càng trẻ hóa, cứ 4 người trên 25 tuổi thì có 1 người bị huyết áp cao, tỷ lệ 25%, một con số đáng báo động.

  • 20/08/2026

    5 mẹo ăn chậm nhai kỹ giúp giảm cân

    Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.

  • 20/08/2026

    Những điều bạn cần biết về Prostaglandin – Thủ phạm gây đau bụng kinh

    Prostaglandin là các hợp chất giống hormone - “thủ phạm” gây đau bụng kinh cho phái nữ. Ngoài ra, prostaglandin cũng gây ra nhiều ảnh hưởng khác đối với cơ thể, cùng tìm hiểu về hợp chất thú vị này qua bài viết sau!

  • 19/08/2026

    Ăn sáng hàng ngày với yến mạch có tốt không?

    Yến mạch là lựa chọn giàu chất xơ cho bữa sáng nhưng cần ăn đúng cách và khẩu phần phù hợp để phát huy lợi ích.

  • 19/08/2026

    10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe

    Những thói quen buổi sáng có thể quyết định rất lớn đến sức khỏe và năng suất làm việc của chúng ta trong ngày. Một số thói quen này tưởng chừng vô hại, nhưng nếu không được thay đổi, chúng có thể gây ra những tác động tiêu cực cho sức khỏe về lâu dài. Thay đổi những thói quen buổi sáng phổ biến này có thể giúp bạn giữ được sức khỏe tốt hơn và năng suất cao hơn trong suốt cả ngày. Cùng tìm hiểu về 10 thói quen phổ biến vào buổi sáng gây hại cho sức khỏe qua bài viết sau đây!

  • 18/08/2026

    Đau bụng, tiêu chảy kéo dài: Cảnh giác viêm đại tràng giả mạc do dùng kháng sinh

    Viêm đại tràng giả mạc là bệnh lý có thể xuất hiện sau khi sử dụng kháng sinh, đặc biệt khi dùng kéo dài hoặc dùng nhiều loại kháng sinh khác nhau. Bệnh thường biểu hiện bằng các triệu chứng như tiêu chảy kéo dài, đau bụng, sốt… và có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

  • 18/08/2026

    Người tập thể dục thể thao cần lưu ý gì khi vận động mùa nắng nóng?

    Mùa hè mang đến cơ hội tuyệt vời để chúng ta khởi động những thói quen tích cực, giải phóng năng lượng và nâng cao thể chất. Tuy nhiên, việc vận động dưới nền nhiệt độ cao lại là một thử thách không nhỏ đối với hệ thống điều hòa thân nhiệt tự nhiên của cơ thể. Nếu không biết cách phòng ngừa và chuẩn bị chu đáo, người tập rất dễ đối mặt với các nguy cơ mất nước, kiệt sức hay thậm chí là sốc nhiệt nguy hiểm. Nhằm giúp bạn làm chủ lộ trình rèn luyện một cách an toàn và bền bỉ trong những ngày oi bức, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp bạn có một chế độ tập luyện hiệu quả

Xem thêm