Cũng theo nguồn tin này, loại viên thuốc ngừa thai có chứa những chất tương tự như estrogen và progesterone ở người, làm tăng khả năng ung thư vú, ung thư tử cung, và ung thư gan ở những phụ nữ sử dụng chúng. Ảnh hưởng này sẽ còn kéo dài đến tận 10 năm sau khi họ đã ngưng sử dụng thuốc ngừa thai.Thực hư như thế nào?
Ta cần biết, một trong những biện pháp ngừa thai thai hữu hiệu là dùng thuốc ngừa thai loại uống. Cơ chế tác dụng của thuốc ngừa thai loại uống là làm cho tinh trùng không gặp được trứng bằng cách: ức chế sự rụng trứng trong cơ thể người phụ nữ, cản trở sự di chuyển của tinh trùng do làm đặc chất dịch ở cổ tử cung, nếu trứng gặp tinh trùng rồi thì thuốc ngăn trứng thụ tinh gắn với nội mạc tử cung.
Thuốc ngừa thai có tác dụng như trên là vì trong 1 viên thuốc thường phối hợp chứa hai dẫn chất estrogen và progesterone. Thực chất đây là 2 hoóc-môn sinh dục có sẵn trong cơ thể người phụ nữ. Riêng estrogen được dùng làm thuốc, không chỉ dùng làm thuốc ngừa thai mà còn dùng làm thuốc trị rối loạn do phụ nữ thiếu hoóc-môn này (như mãn kinh) trong “liệu pháp hoóc-môn thay thế”.
Từ lâu, người ta đã biết khi dùng làm thuốc, mặc dù estrogen có bản chất xuất phát từ hoóc-môn của người, nó lại gây nhiều tác dụng phụ có hại, đặc biệt làm tăng nguy cơ gây ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư gan ở người phụ nữ dùng nó lâu dài.
Nhưng người ta cũng ghi nhận là estrogen lại có tính bảo vệ giúp người phụ nữ dùng nó ít có nguy cơ bị ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung hơn người phụ nữ bình thường không dùng thuốc. Như vậy, estrogen vừa làm tăng nguy cơ bị một số ít ung thư lại vừa bảo vệ phụ nữ tránh một số ung thư khác.
Bác sĩ thường cân nhắc lợi ích và nguy cơ hoặc sàng lọc để tránh dùng thuốc tránh thai loại uống mà chọn biện pháp ngừa thai khác thích hợp cho người phụ nữ cần tránh thai. Phụ nữ trên 40 tuổi, nghi ngờ có khối u liên quan đến hoóc-môn, có tiền căn có khối u gan không được dùng thuốc tránh thai loại uống.
Trong bản thông báo báo chí của IARC đề cập ở trên, IARC cũng tái xác nhận thuốc ngừa thai loại uống vừa làm tăng nguy cơ bị một số ít ung thư như: ung thư vú, ung thư cổ tử cung và ung thư gan ở người phụ nữ dùng nó lâu dài, lại vừa bảo vệ phụ nữ tránh ung thư ung thư buồng trứng, ung thư nội mạc tử cung.
IARC cũng ghi nhận cần có nhiều nghiên cứu khoa học hơn để xem cán cân giữa nguy cơ gây ung thư và lợi ích toàn cầu của việc dùng thuốc ngừa thai loại uống thật sự nghiêng về bên nào (điều này cho thấy hiện nay chưa thể khẳng định là không nên dùng thuốc ngừa thai loại uống chỉ vì nó có nguy cơ gây ung thư như đã biết). IARC khuyên các phụ nữ nên đi khám bác sĩ để quyết định chọn thuốc ngừa thai loại uống, nên trao đổi với bác sĩ về lợi ích và nguy cơ của biện pháp ngừa thai này cũng như báo rõ cho bác sĩ biết tiền sử gia đình có bị mắc bệnh ung thư và các loại bệnh khác.
Cần lưu ý, không phải các thuốc bị thông tin cảnh giác là có nghĩa bị cấm lưu hành thuốc đó, mà chỉ có nghĩa cần cẩn trọng hơn trong theo dõi sử dụng. Chỉ riêng năm 2010, đã có trên 5 triệu thông tin cảnh giác thuốc được báo cáo trong cơ sở dữ liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO database) nhưng chỉ có một vài thuốc được rút ra khỏi thị trường dược phẩm.
Bên cạnh phần hại hoàn toàn có thể khắc phục được bằng cách sử dụng đúng, thuốc ngừa thai loại uống có phần lợi rất nhiều. Hiện nay, có hàng trăm triệu phụ nữ trên thế giới dùng thuốc ngừa thai trên thế giới, góp phần kiểm soát và ổn định dân số toàn cầu. Vẫn chưa có thông báo chính thức từ WHO, cơ quan toàn cầu chăm sóc sức khỏe, về vấn đề phải ngưng dùng thuốc ngừa thai vì nguy cơ ung thư. Các phụ nữ đang dùng thuốc này vẫn có thể an tâm sử dụng.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.