
Vaccine phòng bệnh sởi tạo nên miễn dịch chủ động ở trẻ.
Phòng dịch bệnh mùa Hè
Bộ Y tế cảnh báo, các bệnh lây truyền qua đường hô hấp, đường tiêu hóa hay các bệnh do muỗi truyền có nguy cơ gia tăng vào mùa Hè, dễ bùng phát dịch bệnh.
Để chủ động phòng chống dịch ngay từ đầu mùa hè năm 2021 và không để dịch chồng dịch, Bộ Y tế đã ban hành Công văn số 2289/BYT-DP gửi UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đề nghị chỉ đạo chính quyền các cấp, các ngành, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội phối hợp với ngành y tế triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng chống, ngăn chặn hiệu quả sự bùng phát dịch bệnh mùa Hè trên địa bàn.

Bệnh sởi dễ lây truyền qua đường hô hấp.
Một số bệnh như sởi – rubella, cúm, quai bị, thủy đậu, viêm não Nhật Bản đã có vaccine phòng bệnh. Tuy nhiên, không ít đối tượng chưa được tiêm chủng, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh trong cộng đồng.
Do đó, đối với bệnh dễ lây như sởi – rubella, những người có nguy cơ cao mắc bệnh như trẻ em và phụ nữ chuẩn bị mang thai nên đi tiêm chủng theo hướng dẫn của chương trình tiêm chủng mở rộng.
Lưu ý khi tiêm phòng sởi
Lựa chọn vaccine sởi cho trẻ
Hiện nay, vaccine phòng bệnh sởi được bào chế dưới 2 dạng: vaccine sởi đơn và vaccine phối hợp (sởi – rubella hoặc sởi – quai bị – rubella).
Vaccine sởi đơn nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng được tiêm cho bé khi đủ 9 tháng tuổi. Đến 18 tháng tuổi, bé được tiêm nhắc lại với vaccine sởi – rubella. Trẻ dưới 9 tháng tuổi không khuyến cáo tiêm vaccine sởi, do trẻ còn kháng thể từ mẹ truyền sang và đáp ứng miễn dịch của trẻ với vaccine sởi không cao.

Vaccine phối hợp giúp phòng 3 bệnh sởi – quai bị – rubella.
Vaccine phối hợp sởi – quai bị – rubella là vaccine dịch vụ giúp phòng cùng lúc 3 bệnh sởi, quai bị và rubella. Ở trẻ nhỏ, vaccine này được tiêm theo lịch: Mũi 1 vào lúc 12 tháng tuổi, mũi 2 vào lúc 4-6 tuổi.
Trong những vùng đông dân cư và có nguy cơ dịch sởi cao, cha mẹ nên cho trẻ đi tiêm vaccine sởi ngay khi đủ 9 tháng tuổi và có sức khỏe đạt yêu cầu.
Chuẩn bị kỹ trước khi tiêm
Trước khi đi tiêm, cha mẹ hoặc người chăm sóc cần động viên tinh thần trẻ, cho trẻ ăn nhẹ để tránh hạ đường huyết sau khi tiêm. Phụ huynh nên mang theo sổ/phiếu tiêm cho trẻ để tiện theo dõi lịch tiêm chủng, tránh bỏ quên lịch tiêm nhắc lại.
Để đảm bảo an toàn tiêm chủng, cha mẹ nên chủ động thông báo với nhân viên y tế về tình trạng sức khỏe của con: Đang mắc bệnh hay điều trị không, dị ứng, phản ứng mạnh trong những lần tiêm chủng trước đó như sốt cao, phát ban, sưng nề vùng tiêm… Theo đó, cán bộ tiêm chủng sẽ có chỉ định phù hợp để tránh những phản ứng không mong muốn xảy ra.
Chăm sóc và theo dõi trẻ sau tiêm

Trẻ cần được theo dõi khoảng 30 phút tại điểm tiêm chủng.
Người được tiêm phòng vaccine sởi có thể bị sốt nhẹ, phát ban, sưng, nóng, đỏ đau tại chỗ tiêm… Hầu hết những phản ứng này đều rất nhẹ và sẽ hết trong khoảng từ 1-2 ngày sau tiêm mà không cần điều trị. Các phản ứng nghiêm trọng sau khi tiêm phòng vaccine sởi rất hiếm gặp.
Sốt nhẹ sau tiêm phòng sởi là vấn đề nhiều cha mẹ băn khoăn, lo ngại nhất. Tuy nhiên, phản ứng này là hoàn toàn bình thường, cho thấy hệ miễn dịch của cơ thể đang có đáp ứng với vaccine.
Sau khi tiêm, trẻ cần được theo dõi trong vòng 30 phút tại điểm tiêm và tiếp tục theo dõi tại nhà trong 24 đến 48 tiếng. Nếu thấy có bất kỳ biểu hiện bất thường như: Sốt cao, co giật tím tái, li bì, khó thở, khóc kéo dài không dỗ được, phụ huynh phải đưa trẻ đến cơ sở khám chữa bệnh gần nhất để khám và xử trí kịp thời.
Nhiều trẻ có hiện tượng chán ăn sau khi tiêm. Khi đó, cha mẹ cần cho trẻ uống nước nhiều hơn hoặc thêm những món ăn lỏng dễ tiêu hóa. Tuyệt đối tránh tì đè vào vết tiêm của trẻ, đồng thời không dùng chất lạ để đắp lên vị trí tiêm bị sưng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Chế độ ăn cho người bệnh sởi.
Hệ miễn dịch chỉ hoạt động hiệu quả khi duy trì được trạng thái cân bằng nội môi, tránh tình trạng viêm quá mức gây tổn thương mô. Các nghiên cứu hiện đại đã chứng minh rằng các hợp chất thực vật như Flavonoid, Catechin và Mogroside có trong các loại trà thảo mộc có khả năng can thiệp tích cực vào quá trình bảo vệ niêm mạc và điều hòa miễn dịch.
Cái lạnh thường khiến chúng ta ngại chạm tay vào những miếng mặt nạ mát lạnh. Tham khảo những loại mặt nạ phù hợp cho mùa đông và bí quyết để duy trì thói quen dưỡng da ngay cả trong những ngày giá rét nhất.
Đau nhức do phát triển là những cơn đau âm ỉ hoặc đau nhói kiểu chuột rút mà trẻ em có thể gặp phải và thường gặp nhất là ở chân. Những cơn đau này thường xảy ra vào cuối ngày hoặc ban đêm, đau ở cả hai chân và tình trạng sẽ đỡ hơn khi trẻ nghỉ ngơi. Vậy nguyên nhân gây ra các cơn đau này ở trẻ là gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau đây!
Trứng là nguồn thực phẩm giá rẻ và giàu dinh dưỡng nhưng hàm lượng cholesterol trong trứng luôn là vấn đề gây băn khoăn. Liệu việc duy trì thói quen ăn trứng hàng ngày có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch như nhiều người lo ngại?
Natri có trong muối ăn và nhiều loại gia vị khác nhau; chúng cần được kiểm soát trong các bệnh thận, tăng huyết áp và các vấn đề về tim mạch. Kiểm soát nước sốt và gia vị giúp duy trì lượng natri dưới mức giới hạn 2.300 miligam (mg) mỗi ngày, tương đương khoảng một thìa cà phê muối theo các khuyến nghị Y tế.
Phản ứng viêm là một quá trình sinh học đa bước, đòi hỏi sự can thiệp từ nhiều nhóm hợp chất khác nhau để đạt được hiệu quả điều hòa tối ưu. Từ khả năng làm giảm giải phóng histamine của La hán quả đến tác động ức chế nitric oxide của Hạ khô thảo và đặc tính chống oxy hóa mạnh mẽ của Curcumin trong Nghệ, các thảo dược đang chứng minh vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn định nội môi.
Mất ngủ khi mang thai không chỉ là nỗi lo về sức khỏe mà còn làm giảm chất lượng cuộc sống của mẹ bầu. Hiểu rõ nguyên nhân và áp dụng đúng các giải pháp hỗ trợ sẽ giúp mẹ cải thiện giấc ngủ nhanh chóng.
Tết Nguyên Đán là khoảng thời gian quan trọng trong văn hóa người Việt, nhưng cũng là thời điểm gây ra những xáo trộn lớn về nhịp sinh học, chế độ dinh dưỡng và thói quen vận động. Những thay đổi đột ngột này dẫn đến hội chứng "mệt mỏi hậu kỳ nghỉ", làm suy giảm hệ miễn dịch và gia tăng nguy cơ tái phát các bệnh lý mạn tính.