Viêm kết mạc (bệnh đau mắt đỏ) là tình trạng viêm kết mạc do nhiễm trùng hoặc dị ứng. Tùy thuộc vào nguyên nhân gây viêm là do vi khuẩn, virus hay dị ứng, đau mắt đỏ có thể gây ra các triệu chứng sau:
Tuy nhiên, nhiều tình trạng khác cũng có thể gây ra những triệu chứng này. Cùng tìm hiểu về những tình trạng này và chúng khác với đau mắt đỏ như thế nào.
Những bệnh nào có thể nhầm lẫn với bệnh đau mắt đỏ?

Đỏ mắt, kích ứng và tiết dịch đều là những triệu chứng đặc trưng của đau mắt đỏ. Tuy nhiên, một số triệu chứng tương tự cũng có thể được thấy ở các tình trạng mắt khác. Nếu bạn gặp bất kỳ khó chịu nào ở mắt hoặc các vấn đề về thị lực, tốt nhất bạn nên đến gặp bác sĩ để họ có thể chẩn đoán chính xác.
Lẹo
Lẹo có nhiều khả năng phát triển dọc theo lông mi, mặc dù đôi khi nó có thể phát triển bên trong mí mắt. Mặc dù lẹo mắt đôi khi có thể gây đỏ mắt nhưng nó được biết đến nhiều nhất dưới dạng vết sưng đỏ, đau đớn trông giống như mụn nhọt. Sưng mí mắt cũng là tình trạng phổ biến.
Viêm bờ mi
Viêm bờ mi là tình trạng viêm mí mắt, thường xuất hiện ở cả 2 mắt. Điều khiến bệnh viêm bờ mi khác với đau mắt đỏ là sưng mí mắt và triệu chứng khô mắt. Ngoài ra, không giống như đau mắt đỏ, viêm bờ mi có thể gây tăng tiết dịch mắt và gây ra tạo chất chảy dưới cạnh mí mắt.
Viêm giác mạc
Viêm giác mạc là tình trạng viêm giác mạc ở phía trước mắt của bạn. Nó có tất cả các triệu chứng giống như đau mắt đỏ, ngoại trừ viêm giác mạc có thể đau hơn.
Viêm mống mắt hoặc viêm màng bồ đào
Viêm màng bồ đào là tình trạng viêm bên trong mắt do một số bệnh ung thư, bệnh tự miễn và nhiễm trùng gây ra. Viêm mống mắt là một loại viêm màng bồ đào được gọi là viêm màng bồ đào trước.
Điều giúp phân biệt viêm màng bồ đào với đau mắt đỏ là bạn có thể gặp phải hiện tượng ruồi bay nếu bạn bị viêm ở phía sau mắt. Đây là những đường nguệch ngoạc hoặc những đốm đen di chuyển qua tầm nhìn của bạn. Nếu bạn bị viêm ở phía trước mắt, bạn có thể rất nhạy cảm với ánh sáng.
Bệnh tăng nhãn áp
Bệnh tăng nhãn áp là một loại bệnh thoái hóa mắt do tổn thương dây thần kinh thị giác phía sau mắt. Các trường hợp sớm thường không có triệu chứng, tuy nhiên các trường hợp nặng có thể gây ra các vấn đề về thị lực. Không giống như đau mắt đỏ, bệnh tăng nhãn áp không gây đỏ mắt hoặc chảy mủ.
Dị ứng
Đỏ mắt có thể là triệu chứng của dị ứng. Điều khiến dị ứng khác với đau mắt đỏ là dị ứng luôn gây ngứa. Ngoài ra, mặc dù có thể chảy nước mắt nhưng dị ứng mắt thường không gây chảy dịch như mắt đỏ.
Khô mắt
Khô mắt là một tình trạng phổ biến do mắt bạn thiếu nước mắt. Các triệu chứng phần lớn tương tự như đau mắt đỏ. Tuy nhiên, không giống như đau mắt đỏ, khô mắt có thể khiến mắt bạn bị cay. Khô mắt thường là một tình trạng mạn tính, trong khi đau mắt đỏ xuất hiện đột ngột.
Viêm màng cứng/ Viêm thượng củng mạc
Viêm màng cứng là tình trạng viêm màng cứng (một lớp trong suốt phía trên phần trắng của mắt) và nó có thể phát triển ở một hoặc cả hai mắt. Đỏ và đau là phổ biến, nhưng các vấn đề về thị lực và tiết dịch rất hiếm.
Trầy xước giác mạc hoặc chấn thương khác
Trầy xước giác mạc là một loại chấn thương mắt phổ biến liên quan đến vết xước trên giác mạc của mắt. Nguyên nhân thường gặp nhất là do chấn thương khi tiếp xúc và dị vật có thể dính vào mắt bạn, chẳng hạn như cát. Đau từ nhẹ đến nặng và thay đổi thị lực là những triệu chứng đặc trưng.
Chắp
Chắp là một vết sưng trên mí mắt của bạn. Nó có thể bị sưng, đỏ và mềm, đôi khi dẫn đến sưng mí mắt lan rộng.
Viêm củng mạc
Viêm củng mạc là tình trạng viêm phần lòng trắng của mắt. Nó thường xuất hiện ở một mắt và có các triệu chứng tương tự như đau mắt đỏ, ngoại trừ chảy nước mắt đặc. Cơn đau do viêm củng mạc có thể kéo dài từ mắt đến hàm, cũng như phần còn lại của khuôn mặt và đầu.
Khi nào cần liên hệ với bác sĩ?

Hãy đến gặp bác sĩ nhãn khoa nếu:
Việc điều trị sẽ phụ thuộc vào loại bệnh mà bạn mắc phải.
Tóm lại, đỏ, mờ và chảy nước mắt đều là những triệu chứng phổ biến của đau mắt đỏ. Tuy nhiên, các triệu chứng liên quan đến đau mắt đỏ cũng do các tình trạng khác gây ra. Vì lý do này, hãy gặp bác sĩ để xác định nguyên nhân cơ bản từ đó có được phương pháp điều trị phù hợp.
Trong nhịp sống hiện đại đầy áp lực, xu hướng tìm về các giá trị tự nhiên như một giải pháp bền vững để chăm sóc sức khỏe. Trong số đó, sự kết hợp tinh tế giữa thảo mộc và trà không chỉ đơn thuần tạo nên một thức uống giải khát, mà còn là giải pháp "thanh nhiệt", cân bằng cơ thể dựa trên nền tảng y học cổ truyền.
Ngày càng nhiều phụ nữ nhận thức rõ và quan tâm tìm hiểu về tầm quan trọng của thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh đối với cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
Sữa là thức uống tốt cho sức khỏe của nhiều người, nhưng không phải lúc nào cũng là lựa chọn tốt nhất khi dùng một số loại thuốc và thực phẩm chức năng. Sữa chứa canxi, protein (casein) và chất béo có thể liên kết hoặc trung hòa một số chất dinh dưỡng và thuốc. Những tương tác này có thể làm chậm quá trình hấp thụ, giảm lượng chất bổ sung mà cơ thể có thể sử dụng hoặc làm thay đổi hiệu quả của thuốc.
Cách chế biến trứng ảnh hưởng đến tổng lượng calo nạp vào và khả năng hấp thụ dưỡng chất của cơ thể. Vậy trứng luộc, trứng chần hay trứng ốp la tốt hơn cho sức khỏe?
U xơ tử cung có thể gây nhiều biến chứng, vì vậy chị em không nên chủ quan với những dấu hiệu nghi ngờ. Cần đi khám chuyên khoa sớm để được chẩn đoán chính xác và điều trị can thiệp kịp thời.
Năm mới thường đi kèm với tiệc tùng và gặp gỡ, thức khuya, dùng đồ uống có cồn và trang điểm liên tục. Những thay đổi này có thể khiến da bị khô, xỉn màu, nổi mụn, bít tắc lỗ chân lông và lão hóa sớm. Để phục hồi làn da căng mọng, rạng rỡ sau những dịp này, việc xây dựng một quy trình chăm sóc da khoa học và chuyên sâu là điều vô cùng cần thiết. Bài viết này sẽ cung cấp các phương pháp phục hồi da hiệu quả, giúp làn da của bạn luôn khỏe mạnh và tươi trẻ.
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và đồ uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Không tập thể dục hay tập không đủ có thể gây ra nhiều tác dụng phụ cho cơ thể, bao gồm tăng cân, giảm mức năng lượng và tăng nguy cơ mắc các bệnh lý mạn tính...