Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Nguy cơ thiếu máu do nhiễm giun sán

Giun sán thường gây thiếu máu do sử dụng các chất dinh dưỡng cho con người ăn vào, đồng thời làm rối loạn tiêu hóa và hấp thu.

Thiếu máu là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng hemoglobin (Hb) trong máu xuống thấp hơn bình thường. Thiếu máu gây các hậu quả làm giảm phát triển trí tuệ, vận động, giảm phát triển thể lực, giảm sức đề kháng với bệnh nhiễm trùng, giảm khả năng làm việc và năng suất lao động.

Giun sán là những ký sinh trùng phổ biến ở Việt Nam và số người mang loại ký sinh trùng cũng tương đối nhiều. Nguyên nhân là do ăn uống không đảm bảo vệ sinh, ăn thức ăn không được nấu chín.

Giun sán thường gây thiếu máu do sử dụng các chất dinh dưỡng cho con người ăn vào, đồng thời làm rối loạn tiêu hóa và hấp thu. Một số loài giun sán gây thiếu máu thường gặp là:

1. Giun móc/giun mỏ (Ancylostoma duodenale/Necator americanus)

Bệnh giun móc/giun mỏ lưu hành ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới. Điều kiện quyết định sự lây truyền của giun móc/giun mỏ là khí hậu, tình trạng vệ sinh, các tập quán sinh hoạt và mức độ tiếp xúc với đất bẩn nhiễm phân người. Dân ở nông thôn nhiễm cao hơn dân ở thành thị, đặc biệt là dân vùng trồng màu hoặc cây công nghiệp như dâu tằm, mía, cà phê, thuốc lá, ở vùng mỏ than.

Giai đoạn ở ruột: Giun móc ký sinh tại tá tràng và bám vào niêm mạc ruột để hút máu nên tổn thương bệnh học chủ yếu ở tá tràng và hệ tạo máu. Giun móc hút khoảng 0,2 - 0,34 ml máu/ngày. Giun mỏ hút khoảng 0,03 - 0,05 ml máu/ngày [2]. Nên tình trạng thiếu máu xảy ra từ từ trong thời gian dài, số lượng hồng câu giảm dần, nhạt màu và có kích thước nhỏ hơn bình thường. Ngoài tác hại giun hút máu, giun móc/giun mỏ còn gây viêm hành tá tràng và tiết ra chất chống đông máu làm vết thương chổ giun hút máu chảy máu kéo dài, chất độc ức chế cơ quan tạo máu sản sinh hồng cầu làm trầm trọng thêm tình trạng mất máu của bệnh nhân. Trong trường hợp thiếu máu không bù, bệnh nhân có thể trì trệ tâm thần, suy dinh dưỡng, suy kiệt sức khỏe và suy tim. Xét nghiệm máu thấy hồng cầu giảm có khi chỉ còn 1.000.000/mm3, Hb giảm còn 50% đến 20% [1].

Để chẩn đoán xác định bệnh, xét nghiệm phân tìm trứng giun móc.

Ngoài các biện pháp phòng ngừa như vệ sinh ngoại cảnh, quản lý và xử lý nguồn phân cần phải dùng biện pháp ngăn chặn sự xâm nhập ấu trùng xuyên qua da như không đi chân đất… để hạn chế tiếp xúc với đất bằng da trần.

Hình 1 - Giun móc hút máu trong ruột non

Hình 2 - Trứng giun móc

2. Giun tóc (Trichuris trichiura)

Bệnh do giun tóc hay gặp ở người trưởng thành, tăng theo tuổi. Trong trường hợp người bệnh nhiễm ít giun thì hầu như không có biểu hiện lâm sàng, chỉ khi bệnh nhân nhiễm nặng (thường là trên 50 con) thì triệu chứng lâm sàng mới rõ. Giun tóc thường ký sinh ở manh tràng, làm tổn thương niêm mạc ruột gây kích thích ở ruột già, bệnh nhân có triệu chứng giống kiết lỵ, người bệnh đau bụng, đi ngoài nhiều lần nhưng mỗi lần chỉ được một ít phân có thể có lẫn máu, vừa đi ngoài xong bệnh nhân lại cảm giác mót rặn, có bệnh nhân đi ngoài tới 20 - 30 lần trong ngày.

Có trường hợp giun tóc có thể chui vào ruột thừa gây viêm ruột thừa, nếu không được xử trí sớm có thể dẫn đến viêm phúc mạc, gây tử vong. Những bệnh nhân có giun tóc còn hay bị nổi mẩn ngứa, dị ứng, nếu số lượng giun tóc nhiều bệnh nhân còn có biểu hiện thiếu máu, người mệt mỏi, da xanh, niêm mạc nhợt, hay bị hoa mắt chóng mặt ù tai, tóc khô dễ rụng, móng tay nhiều khía dễ gãy.

Nguyên nhân thiếu máu do giun tóc hút máu khi cắm đầu vào niêm mạc ruột, số lượng máu mỗi ngày cho mỗi con giun tóc hút ít hơn giun móc/mỏ, mỗi lần hút máu một con giun tóc có thể cắm vào vài vị trí niêm mạc ruột và làm chảy máu tại vị trí hút máu. Bên cạnh đó, người bệnh còn có biểu hiện rối loạn sinh lý: nữ thì bị rối loạn kinh nguyệt, nam thì bị yếu sinh lý hoặc bất lực, trẻ em thiếu protein máu và chậm lớn. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn có biểu hiện chán ăn, buồn nôn, đau lưng, nhức đầu…

Các triệu chứng của nhiễm giun tóc rất đa dạng, để chẩn đoán chính xác bệnh cần đi khám ở bệnh viện, làm xét nghiệm soi phân tìm trứng giun.

Phòng bệnh dựa trên vệ sinh cá nhân, tránh làm ô nhiễm đất và điều trị hàng loạt định kỳ.

Hình 3 - Giun tóc (trong ổ chảy máu - ruột chứa đầy máu - đang tiêu máu)

3. Sán dải cá (Diphyllobothrium latum)

Trên thế giới khoảng 20 triệu người mắc bệnh sán dải cá. Sán dải cá gặp ở các quốc gia thuộc châu Âu, châu Á và châu Mỹ.

Triệu chứng rõ ràng khi nhiễm nhiều sán.

Triệu chứng thường đau bụng, chán ăn, sụt cân…

Khi người (hoặc chó, mèo, chồn) ăn cá có ấu trùng plerocecoid; vào ruột non ấu trùng bám vào thành ruột bằng hai rãnh hút, hấp thụ các chất dinh dưỡng qua thẩm thấu đặc biệt sán hấp thụ sinh tố B12 rất nhiều nên bệnh nhân có hội chứng thiếu máu, đây là trạng thái thiếu máu do thiếu hụt B12, kiểu Biermer có hồng cầu to, non.

Những người có hội chứng thiếu máu sống trong vùng dịch lưu hành nên xét nghiệm phân tìm trứng dể chẩn đoán xác định.

Không nên ăn gỏi cá sống. Quản lý phân và phát hiện, điều trị người mắc bệnh.

Hình 4 - Đốt sán và Trứng sán dải cá

Tóm lại, người bị nhiễm giun sán có thể nhiễm một loại hay nhiều loại việc điều trị rất phức tạp. Nếu có dấu hiệu hoặc nghi ngờ bị nhiễm giun sán nên đến bệnh viện để khám, xét nghiệm phân hoặc máu xem bị nhiễm loại giun sán nào để điều trị sớm.

KTV. Phạm Thị Thu Giang - Theo impehcm.org.vn
Bình luận
Tin mới
  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

Xem thêm