Nhiều nghiên cứu thấy tình trạng dinh dưỡng của mẹ không chỉ quan trọng cho sự phát triển thai nhi mà còn ảnh hưởng tới chiều cao sau này. Mẹ thiếu dinh dưỡng thì con sinh ra nhẹ cân, chiều dài thấp, dễ ốm bệnh... Mẹ tăng cân quá nhiều dễ có nguy cơ huyết áp cao, tiền sản giật, đái tháo đường, dễ sanh mổ, sanh non…
Dưới đây là những cách để tăng chiều cao cho con trẻ ngay từ trong bụng mẹ được chia sẻ bởi BS Trương Hữu Khanh - Cố vấn khoa Nhiễm - Thần kinh, bệnh viện Nhi đồng 1.
“Ăn cho 2 người” phải hiểu cho đúng, không phải là “ăn gấp đôi” mà cần ăn khoa học và cân bằng, tránh tăng cân quá ít hoặc quá nhiều. Mức tăng trung bình là 10-12kg trong thai kỳ
Ăn uống lúc này vừa quan trọng cho trí não vừa quan trọng cho thể chất (chiều cao, cân nặng)
Lượng ăn phụ thuộc cân nặng trước khi mang thai, tuổi của mẹ và tốc độ tăng cân
3 tháng đầu thai kỳ ăn uống bình thường, tăng lượng ăn ở 3 tháng giữa và 3 tháng cuối
Ăn đủ và đa dạng các thực phẩm thuộc các nhóm chất thiết yếu: tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất.
Tinh bột (cơm, bún, phở, bánh mì…) chiếm khoảng 30% tổng lượng ăn, ngày 3-4 bát cơm đầy (hoặc các tinh bột khác tương đương)
Chất đạm khoảng 20%, tương đương 60 – 100g/ngày theo từng giai đoạn. Đạm có nhiều trong cá, tôm, cua, trứng, thịt, sữa và sản phẩm từ sữa, các loại đậu, các loại hạt,… mấy loại này cũng chứa nhiều sắt và chất béo tốt. Không nên ăn thịt, cá, trứng sống hoặc tái, nên ăn đồ đã nấu chín…
Chất béo khoảng 20% tổng lượng ăn. Ngày 60-70g (khoảng 6-8 thìa dầu mỡ). Có thể lấy cả trong các loại thức ăn như cá, thịt, các loại hạt…
Nhớ ăn nhiều rau xanh và trái cây (khoảng 30% khẩu phần ăn) để cung cấp vitamin và khoáng chất, chất xơ…

Không bỏ bữa sáng, ăn đủ các bữa chính và thêm các bữa phụ (chia nhỏ bữa ăn). Khi ăn cảm thấy no thì dừng.
Canxi: Canxi cần thiết cho sự phát triển xương của thai nhi. Phụ nữ mang thai cần từ 1.000 - 1200mg canxi/ngày. Cách tốt nhất là lấy canxi từ thức ăn. Tôm, cua, cá, thuỷ hải sản, trứng, đậu phụ, ngũ cốc, các loại hạt, sữa, sữa chua, phô mai… nhiều canxi lắm. Nếu ăn uống kém có thể bổ sung canxi theo chỉ dẫn bác sĩ sản
Vitamin D: Vitamin D (và vitamin K2) cần thiết cho sự hấp thụ và chuyển hoá canxi, ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch của cơ thể. Vitamin D rất quan trọng cho cả mẹ và con nhưng thường dễ bị bỏ qua vì đa phần chú ý canxi hơn
Với mẹ:
Củng cố hệ xương. Tăng cường miễn dịch để mẹ đỡ ốm bệnh khi mang thai. Giảm nguy cơ sinh non, tiền sản giật (một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu), đái tháo đường, huyết áp cao, trầm cảm sau sinh...
Với con:
Giúp xương thai nhi phát triển, có cân nặng, chiều dài tốt khi sinh. Giảm nguy cơ còi xương, gãy xương ở trẻ sơ sinh. Người ta còn thấy mẹ bổ sung đủ vitamin D trong thai kỳ làm tăng miễn dịch, giảm nguy cơ mắc các vấn đề hô hấp, khò khè của trẻ khi chào đời…
Nhu cầu vitamin D cần cho phụ nữ mang thai ít nhất là 600-800 IU/ngày, nhiều nơi khuyên 1000-2000 IU/ngày
Không có vitamin D thì canxi không hấp thu được, đã ăn uống giàu canxi rồi thì bổ sung thêm vitamin D.
Luôn nhớ uống ĐỦ NƯỚC
Cần tránh: chất kích thích như rượu, bia, đồ ăn nhanh, đồ quá nhiều đường, muối…
Nên: tập thể dục nhẹ nhàng, ngủ đủ giấc, giữ tinh thần vui vẻ, thoải mái.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Óc chó đỏ - Hạt dinh dưỡng tốt cho bà bầu và thai nhi.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.