1.Vắcxin viêm gan B
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh, cả trai lẫn gái, nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: trong vòng 24 giờ sau khi sinh.
Số liều: 3.
Thời gian các mũi tiêm: ngay lúc mới sinh; từ 1 đến 2 tháng tuổi; và từ 6 đến 18 tháng tuổi.
Những lưu ý đặc biệt: vắcxin viêm gan B nhằm bảo vệ cơ thể trước nguy cơ mắc bệnh viêm gan B truyền qua máu. Viêm gan B là căn bệnh gây xơ gan, một tình trạng trong đó mô sẹo thay thế mô khỏe dẫn đến suy gan và ung thư gan. Siêu vi viêm gan loại B lây truyền qua máu hoặc các chất dịch khác của cơ thể. Tại Mỹ có 1,25 triệu người bị bệnh viêm gan b mãn tính. 36% những người này bị nhiễm bệnh ngay từ khi còn nhỏ. Có tới 25% người nhiễm bệnh ở độ tuổi sơ sinh đã chết khi trưởng thành vì vậy việc tiêm phòng vắcxin đặc biệt quan trọng.

Chủng ngừa vắcxin viêm gan B cho trẻ ngay trong vòng 24 giờ sau khi sinh
2. Vắcxin bạch hầu, ho gà và uốn ván (DTaP)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi đối tượng
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số liều: 5.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 15 đến 18 tháng tuổi; từ 4 đến 6 tuổi.
Lưu ý đặc biệt: DPT là vắcxin kết hợp chống lại ba bệnh truyền nhiễm ở người là bạch hầu, ho gà và uốn ván. Các thành phần vắcxin bao gồm bạch hầu độc tố uốn ván và giết chết toàn bộ tế bào của vi khuẩn gây ho gà. Ho gà là căn bệnh rất dễ lây lan, gây ho kéo dài từ hai tuần trở lên, kèm theo nôn mửa. Ho gà nguy hiểm nhất ở trẻ sơ sinh và có thể dẫn đến viêm phổi, tổn thương não, co giật và tử vong. Việc chủng ngừa DTaP có hiệu quả từ 80 - 89% thời gian nên có thể hiểu ngay cả khi một người được chủng ngừa, vẫn có thể bị nhiễm bệnh ho gà. DTaP cũng có tác dụng bảo vệ cơ thể chống bệnh bạch hầu và uốn ván. Bệnh bạch hầu xuất hiện khi cổ họng trong một lớp phủ dày và dẫn đến tê liệt, suy tim, và các vấn đề hô hấp. Uốn ván là nguyên nhân gây co thắt cơ bắp, đặc biệt là đầu và cổ, vì vậy nó được gọi là thủ phạm gây khít hàm”. Việc chủng ngừa vắc xin sẽ giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh, nên tiêm phòng theo khuyến cáo nói trên, hoặc từ năm 11 tuổi trở ra, sau đó cứ 10 năm tiêm một mũi tiếp.
3. Vắcxin Hemophilus influenzae type B (Hib)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 3 hoặc 4 (tùy thuộc vào vắcxin được sử dụng).
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng tuổi; 4 tháng; 6 tháng; từ 12 đến 15 tháng tuổi.
Lưu ý đặc biệt: Hemophilus influenzae type B (Hib), hay còn gọi là vắcxin Hib, được sử dụng ngăn ngừa bệnh Haemophilus influenzae týp b (Hib). Có thể dùng riêng(chỉ có Hib) hoặc kết hợp với các loại vắcxin khác. Vi khuẩn Hib lây lan qua không khí và khi nhiễm HIb có thể gây viêm màng não (nhiễm trùng dịch và niêm mạc não và tủy sống); viêm thanh quản và viêm phổi.
4. Vắcxin cộng hợp phế cầu khuẩn (PCV13)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người; nhóm người lớn từ 65 tuổi trở lên dùng một liều khuyến cáo duy nhất.
Độ tuổi tiêm mũi đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 4.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi; từ 12 đến 15 tháng tuổi.
Lưu ý đặc biệt: PCV13 bảo vệ cơ thể chống lại bệnh phế cầu khuẩn. Ở trẻ nhỏ, bệnh phế cầu khuẩn có thể gây viêm màng não, nhiễm trùng máu phế cầu khuẩn. Còn ở người cao tuổi có thể gây viêm phổi. Cụ thể hơn, vắcxin PCV13 có thể bảo vệ chống lại 13 loại vi khuẩn phế cầu khuẩn. Nếu trẻ chưa được chủng ngừa PCV13 có thể bị viêm màng não do phế cầu khuẩn (gây tử vong cho khoảng 10% trẻ mắc bệnh), vì vậy chủng ngừa theo khuyến cáo là rất quan trọng. Viêm màng não phế cầu khuẩn cũng có thể gây mù và điếc. Mặc dù mọi người có thể mắc bệnh phế cầu khuẩn, nhưng trẻ dưới hai tuổi, người trên 65 tuổi, người hút thuốc và những người có sức khỏe yếu là nhóm có rủi ro cao nhất. Do kháng thuốc nên kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh phế cầu khuẩn ít hiệu quả hơn, do vậy tiêm chủng lại càng quan trọng hơn.
5. Vắcxin bại liệt bất hoạt (IPV)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 4.
Thời gian các mũi tiêm: 2 tháng; 4 tháng; từ 6 - 18 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.
Đường dùng: tại Mỹ vắcxin này chuyển sang tiêm từ năm 2000 còn ở các nước khác uống qua đường miệng.
Lưu ý đặc biệt: đại đa số những người bị nhiễm bệnh bại liệt không hề có triệu chứng. Dưới 2% số người bị bại liệt, hoặc nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương có thể dẫn đến liệt vĩnh viễn. Tại Mỹ trong nhiều thập kỷ trở lại đây không có người bị bại liệt nhưng CDC vẫn khuyến khích tất cả trẻ em cần được chủng ngừa IPV để phòng tránh nguy cơ bùng phát bệnh bại liệt lây lan từ các vùng có dịch.
6. Vắcxin ngừa Rotavirus
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh (cả trai lẫn gái), cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 2 tháng tuổi.
Số lượng liều: 2 hoặc 3 tùy thuộc vào thực tế.
Thời gian (cho trường hơp 3 liều): 2 tháng; 4 tháng; 6 tháng tuổi
Đường dùng: đường miệng.
Lưu ý đặc biệt: vắcxin ngừa Rotavirus giúp bảo vệ cơ thể chống lại rotavirus, thủ phạm gây bệnh tiêu chảy ở trẻ em. Hiện có hai loại vắcxin rotavirus khác nhau đã được bảo chế nhằm cải thiện tình trạng vệ sinh nhưng không loại bỏ hoàn toàn được căn bệnh này. Rotavirus là nguyên nhân phổ biến gây tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ em trên toàn thế giới, riêng tại Mỹ có từ 2 - 3 triệu ca mắc bệnh, 60.000 ca nhập viện và tỉ lệ tử vong từ 20 - 60 ca.
7. Vắcxin ngừa sởi, quai bị, rubella (MMR)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 12 tháng tuổi.
Số lượng liều: 2.
Thời gian: 12 tháng; 15 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.
Đường dùng: tiêm.

Vắcxin MMR và mũi đầu nên tiêm khi trẻ được 12 tháng tuổi
Lưu ý đặc biệt: MMR là một loại vắcxin kết hợp, cung cấp bảo vệ cơ thể chống lại bệnh sởi, quai bị và rubela. Bệnh sởi thường có liên quan đến những thay đổi về da (xuất hiện đốm Koplik) và phát ban. Sởi còn gây bệnh cho não, hoặc tổn thương não. Quai bị gây viêm cực kỳ đau đớn của tuyến nước bọt, gây viêm tuyến tụy và tinh hoàn cũng như tổn thương não và tử vong. Rubella gây ra các hạch bạch huyết, phát ban da và đau khớp. Ngoài ra, nó có thể gây ra dị tật bẩm sinh nghiêm trọng ở trẻ sơ sinh. Liều MMR đầu tiên chỉ phát huy tác dụng bảo vệ khoảng 95%, vì vậy cần phải tiêm liều thứ hai. Gần đây, tại Mỹ đã có những đợt bùng phát bệnh sởi ở những người không được chủng ngừa, như ở Disneyland chẳng hạn.
8. Vắcxin phòng thủy đậu Varicella
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 12 tháng tuổi.
Số liều: 2.
Thời gian: 12 - 15 tháng tuổi; từ 4 - 6 tuổi.
Đường dùng: tiêm.
Lưu ý đặc biệt: Virút varicella-zoster (VZV) là thủ phạm gây bệnh thủy đậu (và bệnh zona ở người lớn). Căn bệnh nhiễm trùng rất dễ lây lan. Trung bình cứ 1.000 trường hợp nhiễm VZV thì có 5 phải nhập viện. Hầu hết các ca nhập viện đều ở độ tuổi 1 - 4, đây chính là lý do chủng ngừa vắcxin Varicella cho trẻ em là rất quan trọng. Ngoài nhiễm trùng da, VZV còn có thể gây bệnh viêm phổi. Chủng ngừa varicella-zoster cũng có thể được thực hiện cho nhóm người sau khi tiếp xúc với siêu vi khuẩn VZV để giảm thiểu nhiễm trùng. Lợi ích của việc tiêm phòng vắcxin varicella là chi ra 1USD thì tiết kiệm được ít nhất 5 USD.
9. Vắcxin phòng viêm gan A (HepA)
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (cả trai lẫn gái), nhưng cũng được đề xuất dùng cho tất cả mọi người.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 12 tháng tuổi.
Số liều: 2.
Thời gian: theo CDC, hai liều HepA dùng ở độ tuổi từ 12 - 23 tháng; thời gian tiêm 2 liều tách xa nhau 6 - 18 tháng.
Đường dùng: tiêm.
Lưu ý đặc biệt: viêm gan A gây bệnh gan cấp tính (ngắn hạn). Nó lây lan qua đường thực phẩm, nước bị ô nhiễm và vệ sinh kém. Mặc dù hiếm khi tử vong, nhưng viêm gan A có thể gây ra dịch, đe dọa cộng đồng. Theo đó, một người bị nhiễm nếu không được điều trị tiếp xúc với cộng đồng có thể phát bệnh cho cả xã hội như dịch xảy ra tại Thượng Hải, Trung Quốc năm 1988, khiến 300.000 người bị viêm gan A. Vì lý do này, việc chủng ngừa viêm gan A và duy trì an toàn thực phẩm sẽ có tác dụng hạn chế bệnh tốt nhất.
10. Vắcxin phòng cúm
Nhóm dùng chính: trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, người lớn và người cao tuổi cả nam lẫn nữ.
Độ tuổi dùng liều đầu tiên: 6 tháng tuổi.
Số liều: 1 hoặc 2 (tùy theo độ tuổi).
Thời gian: từ 6 tháng đến 9 năm tuổi (1 hoặc 2 liều); trên 9 tuổi tiêm hàng năm.
Đường dùng: tiêm.

Vắcxin phòng cúm được khuyến cáo dùng cho mọi đối tượng
Lưu ý đặc biệt: vắcxin phòng cúm bảo vệ con người trước nguy cơ cúm mùa. Đối với mọi người, cúm mùa thường gây khó chịu, phiền toái nhưng cũng có trường hợp gây tử vong. Theo CDC, hàng triệu người bị cúm mỗi năm, hàng trăm ngàn người phải nhập viện và hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn người chết do các nguyên nhân liên quan đến cúm. Ngay cả những người khỏe mạnh cũng có thể bị bệnh nặng vì cúm và lây lan sang người khác. Do vậy, việc chủng ngừa là rất quan trọng, không chỉ cho chính bản thân, cho gia đình mà còn mang lại lợi ích chung cho toàn xã hội, nhất là nhóm người có nguy cơ cao, như người già hoặc những người có hệ miễn dịch suy yếu.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những lưu ý về Vaccin MMR - Sởi, Quai bị, Rubella
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.
Làm thế nào để giữ cho trí óc luôn minh mẫn và nhạy bén khi tuổi tác ngày một tăng? Câu trả lời có thể đơn giản nằm ngay trên những trang sách. Đọc sách không chỉ là một hình thức giải trí tuyệt vời mà còn là bài tập hoàn hảo cho não bộ, giúp duy trì sức khỏe tinh thần, bảo vệ trí nhớ và đặc biệt là giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer.
Mỡ lợn lâu nay bị coi là 'thủ phạm' gây tăng cân. Tuy nhiên nghiên cứu cho thấy chuột ăn mỡ lợn tích lũy mỡ thấp hơn dầu thực vật. Đâu là sự thật?