Viêm bàng quang kích thích là một dạng viêm bàng quang, gặp chủ yếu ở người trưởng thành. Nguyên nhân là do cơ của bàng quang co bóp bất thường gây hiện tượng đi tiểu nhiều lần hoặc tiểu gấp, tiểu són kèm theo bàng quang bị viêm nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây ra nhiều phiền toái, khó chịu cho người bệnh.
Bệnh viêm bàng quang kích thích là khi cơ của bàng quang co bóp bất thường gây hiện tượng đi tiểu nhiều lần hoặc tiểu gấp, tiểu són kèm theo bàng quang bị viêm nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Bệnh này có thể xảy ra ở cả nam lẫn nữ và thường gặp nhiều hơn ở phụ nữ có tuổi. Hiện nay, ước tính gần 15% dân số thế giới bị bệnh viêm bàng quang kích thích, nữ giới bị nhiều hơn nam giới. Bởi vì do cấu tạo của bàng quang là cơ trơn và dưới sự chỉ huy của hệ thần kinh trung ương bằng hệ phó giao cảm nên bàng quang co bóp nhịp nhàng và khi nước tiểu đầy bàng quang sẽ có hưng phấn thần kinh, kích thích co bóp gây buồn đi tiểu. Đồng thời các cơ thắt (cơ vòng) ở cổ bàng quang có chức năng ngăn chặn rò rỉ nước tiểu. Vì vậy, mọi bất thường trong hai thành phần của chu kỳ tiểu tiện đều dẫn đến rối loạn chức năng bàng quang. Bàng quang của người bình thường (người trưởng thành) có thể chứa đựng được từ 300ml nước tiểu hoặc hơn thế nữa.
Khi bị bệnh viêm bàng quang kích thích sẽ có hiện tượng ứ đọng nước tiểu do mỗi lần đi tiểu không hết số lượng nước tiểu có trong bàng quang. Sự ứ đọng nước tiểu này, nếu vệ sinh cá nhân ở bộ phận tiết niệu - sinh dục ngoài không tốt (vệ sinh hàng ngày, vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục…) hoặc bộ phận hệ tiết niệu, nhất là bàng quang bị mắc một số bệnh (sỏi, polyp, dị dạng bàng quang bẩm sinh…) hoặc do viêm nhiễm niệu đạo (lậu, Chlamydia, Mycoplassma, tạp khuẩn…) lan ngược dòng lên bàng quang gây viêm làm ảnh hưởng đến chức năng của bàng quang, gọi là viêm bàng quang kích thích… Hơn nữa, do ứ nước tiểu có thể dẫn đến mất khả năng co cơ bàng quang hoặc mất sự phối hợp giữa các cơ bàng quang và cơ thắt niệu đạo ngoài.
Như vậy, viêm bàng quang kích thích do hai nguyên nhân chủ yếu, đó là do rối loạn co bóp bởi hệ thống thần kinh chi phối bàng quang của thần kinh trung ương và do bàng quang bị viêm nhiễm.
Với người lớn tuổi, nhất là nữ giới, béo phì, người đã từng phẫu thuật ở vùng chậu, phẫu thuật tiền liệt tuyến hoặc do bệnh làm tổn thương thần kinh ngoại biên (tiểu đường lâu ngày), do tai biến mạch não, bệnh Parkinson rất dễ mắc chứng viêm bàng quang kích thích.
Viêm bàng quang kích thích thường khó kiểm soát việc tiểu tiện, có nghĩa là tiểu không tự chủ. Viêm bàng quang kích thích biểu hiện đặc trưng nhất là mót tiểu (buồn tiểu), tiểu gấp, tiểu són (muốn đi tiểu ngay tức khắc, khó kiềm chế được, nếu chậm trễ có thể tiểu són ra quần), nước tiểu nhỏ giọt, tiểu khó, thậm chí gây bí tiểu. Tiểu nhiều lần trong ngày, nhất là bị đi tiểu đêm làm ảnh hưởng đến giấc ngủ và chất lượng cuộc sống.
Một số cận lâm sàng nên được tiến hành để xác định viêm bàng quang kích thích là nội soi bàng quang để đánh giá tình trạng niêm mạc bàng quang xem có gì bất thường không.
Nuôi cấy, phân lập nước tiểu (xét nghiệm vi sinh y học) để xác định loại vi khuẩn gây bệnh, trên cơ sở đó tiến hành kỹ thuật kháng sinh đồ để đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh giúp bác sĩ chọn kháng sinh thích hợp để điều trị. Nếu có điều kiện, nên tiến hành đo áp lực bên trong bàng quang để đánh giá tình trạng bàng quang kích thích.
Ðể giảm sự kích thích của bàng quang nên dùng thuốc chống co thắt cơ trơn (do kết hợp kháng sinh theo kháng sinh đồ là tốt nhất, nếu không làm được kháng sinh đồ, cần dựa vào phác đồ điều trị của Bộ Y tế). Ngoài ra, cần tập luyện cơ vùng chậu (xoa bụng dưới, co duỗi chân, vận động cơ thể…). Nếu điều trị nội khoa không có kết quả, có thể tiêm một loại thuốc đặc biệt vào cơ bàng quang qua thủ thuật nội soi theo đường niệu đạo (thủ thuật phải được làm tại bệnh viện, đảm bảo vô khuẩn).
Hàng ngày cần vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục - tiết niệu ngoài, tốt nhất là dùng nước đun sôi để nguội hoặc nước được lọc sạch. Với phụ nữ, cần dội nước từ trước ra sau để phòng nước bị nhiễm bẩn qua hậu môn lây nhiễm sang bộ phận sinh dục, tiết niệu vì lỗ tiểu của nữ giới gần với hậu môn.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.