Theo hãng tin Channel News Asia, biến thể virus SARS-CoV-2 có thể vượt qua tốc độ chủng ngừa COVID-19 tại nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này càng khiến nhiều người lo sợ.
Các nhà khoa học trên thế giới đang theo dấu các biến thể COVID-19 để tìm ra các chủng lây lan mạnh nhất và tìm hiểu tác động của chúng đến sức khỏe mỗi cá nhân ra sao. Thậm chí họ cần biết tính hiệu quả vắc xin trong việc chống các biến thể.
Nhiều bằng chứng cho thấy một số đột biến của biến thể COVID-19 có thể giúp virus lây lan mạnh hơn, một số khác lại cho phép virus làm giảm tính hiệu quả của vắc xin.
Mặc dù trong một số trường hợp vắc xin không chống các biến thể hiệu quả, nó vẫn giúp làm giảm số ca nhiễm, nhập viện và tử vong vì COVID-19.
Một số biến thể có thể gây nguy cơ tử vong nhưng nếu xét về biến thể B.1.1.7 (biến thể Anh), nhìn nó không thua gì thế hệ trước về độc lực.
Biến thể xuất hiện vì virus SARS-CoV-2 biến đổi liên tục
Biến thể chính là kết quả tự nhiên từ sự tiến hóa của virus.
Tình trạng đột biến xảy ra khi virus mắc phải lỗi khi tự nhân bản. Một số đột biến không gây ảnh hưởng đến tập tính của virus nhưng nó sẽ giúp virus lây nhiễm nhanh hơn.
Ví dụ, sự đột biến của virus sẽ giúp nó xuất hiện ở mũi và cổ họng nhanh hơn so với ở phổi.
Biến thể virus SARS-CoV-2 xuất hiện ở mũi dễ lây lan mạnh hơn vì chúng lây qua giọt bắn khi ta hắt hơi hay ho.
Đây chỉ là một ví dụ về sự đột biến của virus SARS-CoV-2. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thể khẳng định nhiều hơn về sự ảnh hưởng do tính đột biến về virus SARS-CoV-2.
Thành tựu khoa học giúp chúng ta chống biến thể virus SARS-CoV-2 tốt hơn
Giải trình tự gen của virus SARS-CoV-2 đã trở thành một thành tựu khoa học. Nó giúp chúng ta hiểu về sự thay đổi của virus theo thời gian.
Ngay từ đầu đại dịch COVID-19, đã có hơn 1.5 triệu bộ gen của virus SARS-CoV-2 được giải trình. Đã có ít hơn 10.000 bộ gen trong đại dịch cúm 2009 được giải mã và đó là thành tựu lớn.
Dữ liệu giải trình cho phép các nhà khoa học theo dõi kỹ lưỡng bộ gen của virus. Đồng thời, họ cũng có thể xác định biến thể ở các phòng thí nghiệm và các cuộc thử nghiệm lâm sàng (mặc dù chúng ta vẫn chưa rõ ảnh hưởng của sự đột biến của virus).
Dựa theo các dữ liệu giải trình, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) chú trọng đến các biến thể đáng chú ý nhằm biết được sự thay đổi tập tính (gây bệnh nặng hơn) hoặc thay đổi về bản chất (dễ lây nhiễm hơn).
Biến thể đáng chú ý là các biến thể gây dịch bùng phát ở một cộng đồng hay xuất hiện nhiều quốc gia.
Biến thể đáng chú ý trở thành biến thể đáng lo ngại nếu có bằng chứng cho thấy virus lây lan mạnh hơn hay độc lực của chúng nguy hiểm hơn. Nói cách khác, chúng có thể làm mất tác dụng của thuốc hay vắc xin chống COVID-19.
Sự đột biến xảy ra một cách tự nhiên trong quá trình nhiễm bệnh. Vì vậy, các biến thể đáng quan tâm và đáng lo ngại xuất hiện tại các ổ dịch bùng phát không kiểm soát được là điều không có gì phải ngạc nhiên.
Khi một con virus xâm nhập vào cơ thể không có miễn dịch, nó sẽ lây lan dữ dội và khiến hàng triệu người bị nhiễm bệnh.
Hiện tượng này xảy ra ở nhiều quốc gia, các biến thể xuất hiện ở Anh, Nam Phi và Mỹ... Khi đó, họ chưa kiểm soát được ổ dịch COVID-19. Gần đây, các ổ dịch xuất hiện nhiều ở Brazil, Ấn Độ và Việt Nam.
Sẽ còn nhiều biến thể xuất hiện trước khi dân số toàn cầu chủng ngừa đủ hay có được hệ miễn dịch do bị nhiễm virus SARS-CoV-2 trước đó.
Tin vui chính là vắc xin vẫn có khả năng chống được các biến thể virus SARS-CoV-2 và chúng ta kỳ vọng chúng vẫn sẽ giữ được tính hiệu quả trong tương lai.
Một nghiên cứu gần đây cho thấy vắc xin Pfizer/BioiNTech vẫn đạt hiệu quả 88% trong việc chống biến thể Ấn Độ. Trong khi đó, tính hiệu quả chống biến thể Anh của loại này là 93%. Ngoài ra, tính hiệu quả ngăn ngừa tình trạng nhập viện và tử do COVID-19 của vắc xin Pfizer/BioNTech còn cao hơn.
Theo Worldometers, tính đến sáng ngày 2/6/2021, tổng số ca nhiễm COVID-19 trên thế giới là 171.927.802 người, tổng số ca phục hồi là 154.607.618 người và tổng số ca tử vong toàn cầu là 3.575.545 người.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Chúng ta đã tiến gần đến khả năng miễn dịch cộng đồng với COVID-19 như thế nào?
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.