Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng bệnh lý này, trong đó vữa xơ động mạch chiếm hàng đầu. Hậu quả của bệnh động mạch chi dưới mạn tính ít gây tử vong (khoảng 1%) nhưng nó ảnh hưởng rất nhiều tới cuộc sống, sinh hoạt, làm việc và lao động của người bệnh, thậm chí trở thành tàn phế, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Điều trị còn nhiều khó khăn cả về phương diện nội, ngoại khoa cũng như phục hồi chức năng.
Phát hiện bệnh như thế nào?
Hầu hết các bệnh nhân ở giai đoạn đầu của bệnh sẽ thấy dấu hiệu đau cách hồi: đau khi đi lại, dừng lại nghỉ sẽ đỡ đau và lại đau khi tiếp tục đi. Khoảng cách quãng đường khi xuất hiện đau càng ngắn thì mức độ bệnh càng nặng.
Ban đầu, bệnh nhân có thể xuất hiện đau khi đi khoảng 1.000 mét, nhưng càng về sau, có thể chỉ đi 200 mét đã đau hoặc ngắn hơn, thậm chí đau cả khi không đi lại, đau khi nghỉ ngơi. Hiện nay, đa số người bệnh đến khám khi đã ở giai đoạn muộn, khi người bệnh ngồi tại chỗ cũng đau.
Nếu không được điều trị, chi dưới không được cung cấp máu đầy đủ, khi đó không những xuất hiện đau mà sẽ xuất hiện viêm loét hoặc hoại tử đầu chi do thiếu máu. Đây là biến chứng nặng nề, sẽ dẫn đến cắt cụt chi gây tàn phế cho người bệnh. Tùy vào vị trí bị hoại tử mà cắt cụt cao hay thấp.
Khám tại chỗ sẽ thấy khó bắt mạch hoặc không bắt được mạch ở ngoại vi. Bác sĩ sẽ đo huyết áp ở cổ chân và tính ra một thông số gọi là chỉ số ABI, tính bằng huyết áp tâm thu ở cổ chân chia cho huyết áp tâm thu ở tay. Bình thường chỉ số này từ 0,9 đến 1,3.
Khi ABI bình thường (0,9-1,3): hệ thống động mạch bình thường hoặc tổn thương động mạch không gây hậu quả về huyết động.
Khi ABI từ 0,75-0,9: có bệnh tắc nghẽn động mạch chi dưới, tuy nhiên còn được bù trừ tốt.
Khi ABI từ 0,4-0,75: tình trạng bù trừ ở mức trung bình, chỉ đủ cấp máu cho nhu cầu chuyển hóa lúc nghỉ.
Khi ABI dưới 0,4: giai đoạn bệnh nặng, ảnh hưởng đến chức năng của chi và hậu quả về huyết động nghiêm trọng.
Các xét nghiệm để đánh giá chính xác mức độ tổn thương thường được áp dụng hiện nay gồm siêu âm mạch máu, chụp cắt lớp đa dãy (MSCT) mạch máu và chụp mạch sẽ xác định được mức độ hẹp mạch máu, vị trí chính xác của mạch máu bị hẹp. Đây là những xét nghiệm mà nhiều trung tâm, bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương đã thực hiện được một cách thường quy. Các xét nghiệm này giúp bác sĩ có phương án điều trị phù hợp.
Điều trị như thế nào?
Nếu bệnh không được phát hiện và điều trị sớm sẽ dẫn đến đầu chi không được cung cấp máu đầy đủ, có thể phải cắt cụt chi do hoại tử. Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị đúng chuyên khoa là điều quan trọng nhất. Các phương pháp điều trị hiện nay bao gồm:
Điều trị bằng thuốc: Tất cả bệnh nhân đều phải được điều trị bằng thuốc một cách hệ thống. Các thuốc được dùng gồm thuốc chống huyết khối (thuốc chống ngưng tập tiểu cầu), các thuốc vận mạch, giúp điều hòa lưu huyết, tăng khả năng biến dạng của hồng cầu, giảm tình trạng kết tập tiểu cầu, tăng cường máu đến nuôi dưỡng chi.
Điều trị bằng can thiệp mạch: Đây là phương pháp tiên tiến và đã được áp dụng tại nhiều trung tâm tim mạch. Phương pháp này không phải mổ, chỉ dùng một dụng cụ luồn vào động mạch bị hẹp, nong đoạn hẹp và đặt giá đỡ (stent) tại vị trí hẹp. Kết quả của điều trị bằng can thiệp mạch đã đạt được kết quả rất tích cực.
Điều trị ngoại khoa: Phẫu thuật vẫn là phương pháp điều trị cơ bản, bác sĩ sẽ làm một cầu nối mới đi vòng qua chỗ động mạch bị tổn thương. Có thể dùng cầu nối bằng tĩnh mạch hoặc bằng mạch nhân tạo. Dù điều trị bằng ngoại khoa hay bằng can thiệp mạch, sau đó người bệnh vẫn tiếp tục được theo dõi và duy trì điều trị thuốc.
Lời khuyên của bác sĩ
Bệnh có liên quan nhiều đến các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến mạch máu bao gồm: thuốc lá, tăng huyết áp, tăng mỡ máu, bệnh đái tháo đường. Vì vậy, người bệnh cần tuyệt đối bỏ thuốc lá và điều trị, kiểm soát tốt các bệnh kèm theo như kiểm soát tốt huyết áp, điều trị bệnh đái tháo đường và tình trạng rối loạn chuyển hóa lipid.
Một vấn đề quan trọng nhất là cần khám và phát hiện bệnh sớm, ở giai đoạn chưa đau khi nghỉ ngơi hay chưa có viêm loét, hoại tử chi do thiếu máu. Phát hiện sớm sẽ giúp người bệnh tránh được tàn phế do các biến chứng của bệnh.
Khi đã xuất hiện bệnh, có đau cách hồi, người bệnh cần được tư vấn bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch và dùng thuốc thường xuyên theo chỉ dẫn. Theo dõi định kỳ để có biện pháp can thiệp kịp thời tránh biến chứng.
Những ngày nắng nóng, do thời tiết oi bức và lượng mồ hôi tiết ra nhiều, nếu không có thói quen uống nước thường xuyên, cơ thể dễ mất nước, gây ảnh hưởng đến sức khỏe.
Không còn gói gọn trong những tháng chuyển mùa ngắn ngủi, mùa dị ứng phấn hoa đang có những diễn biến bất thường khi bắt đầu sớm hơn và kéo dài hơn đáng kể trên phạm vi toàn cầu. Những nghiên cứu mới nhất đã gióng lên hồi chuông cảnh báo: sự gia tăng nồng độ CO2 và nhiệt độ trái đất không chỉ làm thay đổi hệ sinh thái mà còn trực tiếp làm cho thực vật sản sinh ra lượng phấn hoa dày đặc với độc lực mạnh hơn.
Lá sung được sử dụng từ lâu trong dân gian dưới dạng thực phẩm, nước sắc hoặc nguyên liệu hỗ trợ chăm sóc sức khỏe. Một số nghiên cứu hiện đại cho thấy lá sung chứa nhiều hợp chất thực vật có hoạt tính sinh học có lợi cho sức khỏe.
Những giải đấu thể thao cuồng nhiệt diễn ra vào khung giờ muộn luôn có sức hút mãnh liệt, dễ dàng biến người hâm mộ thành những "cú đêm" thực thụ. Tuy nhiên, việc thức khuya liên tục để theo dõi các trận đấu không chỉ làm đảo lộn nghiêm trọng nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể mà còn vô tình kích thích những cơn đói bụng xuất hiện vào ban đêm.
Trong bài viết này, TS. Nguyễn Ngọc Cương sẽ chia sẻ góc nhìn chuyên môn về thực trạng chẩn đoán u tuyến giáp tại Việt Nam, đồng thời phân tích các khuyến cáo quốc tế nhằm giúp người đọc hiểu đúng, tránh lo lắng và điều trị quá mức.
Một số loại đồ uống dưới đây có tác dụng tốt đối với chỉ số huyết áp, giúp bạn có thêm cơ sở để xây dựng thực đơn dinh dưỡng hợp lý.
Nếu bạn từng thắc mắc liệu mắt mình có thể bị cháy nắng không, câu trả lời ngắn gọn là: có. Việc bảo vệ mắt khi hoạt động ngoài trời nhiều là điều cần thiết để ngăn ngừa cháy nắng và tổn thương lâu dài.
Viêm gan B là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất trên thế giới. Bệnh do một loại virus tấn công gan và có thể gây viêm gan cấp tính và mãn tính, ước tính có đến gần 1/3 dân số thế giới mắc bệnh, tỉ lệ mắc bệnh nhiều nhất là ở các nước đang phát triển.