Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Căng thẳng có liên quan đến khả năng sinh sản ở nam giới?

Các nghiên cứu trước đây cho thấy căng thẳng có liên quan đến một số vấn đề sức khỏe như bệnh tim, hen suyễn, béo phì và trầm cảm. Hiện nay, một nghiên cứu mới cho thấy căng thẳng có thể làm giảm chất lượng tinh trùng và dẫn đến vô sinh ở nam giới.

Nguyên nhân chính gây ra vô sinh ở nam giới là do những bất thường ở tinh trùng như lượng tinh trùng thấp, tinh trùng bị khuyết tật hoặc không di chuyển được. Các tình trạng như tinh hoàn ẩn hay xuất tinh sớm có thể dẫn đến những bất thường ở tinh trùng cũng như về sức khỏe và lối sống.
Trong nghiên cứu của mình nhóm nghiên cứu đã tìm hiểm xem căng thẳng có ảnh hưởng đến chất lượng tinh trùng và tinh dịch hay không. Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Sinh sản và Vô sinh, tiến hành bởi các nhà nghiên cứu ở Trường Y học Cộng đồng Mailman thuộc Đại học Columbia, thành phố New York và Trường Y học Cộng đồng Rutgers ở Piscataway, bang New Jersey.
Căng thẳng trong cuộc sống làm giảm chất lượng tinh dịch
Để đưa ra kết luận trên, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu 193 đàn ông tuổi từ 39 đến 49 từ năm 2005 đến năm 2008. Những người này nằm trong Chương trình Nghiên cứu Môi trường và Sinh sản ở Quỹ Y tế Kaiser, Oakland, bang California.
Theo nghiên cứu, những người đàn ông này được yêu cầu làm một loạt các xét nghiệm đo mức căng thẳng trong công việc, cuộc sống và mức căng thẳng nói chung.
Họ cũng được yêu cầu cung cấp các mẫu tinh dịch. Bằng cách sử dụng các phương pháp xét nghiệm sinh sản, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học California đã phân tích hàm lượng tinh dịch, hình dạng  và chuyển động của tinh trùng trong mỗi mẫu xét nghiệm.
Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những người đàn ông trải nghiệm hai hoặc nhiều hơn các sự cố căng thẳng trong đời trong hai năm qua có tỷ lệ tinh trùng chuyển động thấp hơn và tỷ lệ tinh trùng có hình dạng bình thường thấp hơn so với những người đàn ông không trải nghiệm các sự cố căng thẳng trong đời. Họ lưu ý rằng phát hiện này vẫn đúng sau khi tính đến các yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch như tuổi tác hoặc các vấn đề sức khỏe khác và tiền sử sức khỏe sinh sản.
Mặc dù căng thẳng trong công việc không trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch ở đàn ông, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những người chịu nhiều căng thẳng trong công việc có tỷ lệ hoóc môn testosterone thấp hơn trong tinh dịch có thể ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu phát hiện thấy kể cả không tính đến mức độ căng thẳng, đàn ông thất nghiệp có chất lượng tinh dịch thấp hơn đàn ông có việc làm.
Căng thẳng ảnh hưởng đến chất lượng tinh dịch như thế nào?
Mặc dù các nhà nghiên cứu không thể xác định chính xác ảnh hưởng của căng thẳng đến chất lượng tinh dịch, họ vẫn đưa ra một số giả thuyết.
Căng thẳng có thể kích hoạt giải phóng glucocorticoid – các hoóc môn steroid ảnh hưởng đến sự chuyển hóa hyđrat-cacbon, chất béo và protein –có thể làm giảm lượng testosterone và việc sản sinh tinh trùng.
Hơn nữa, căng thẳng có thể làm rối loạn quá trình oxy hóa – stress sinh lý ở cơ thể gây ra bởi các gốc tự do chưa trung hòa dẫn đến giảm chất lượng tinh dịch và khả năng sinh sản.
Bình luận về nghiên cứu, tác giả Teresa Janevic, phó giáo sư tiến sĩ Trường Y học Cộng đồng Rutgers cho biết:
“Căng thẳng từ lâu đã được phát hiện là có ảnh hưởng đến sức khỏe. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy sức khỏe sinh sản của đàn ông có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội xung quanh.”
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 5 dấu hiệu vô sinh phổ biến ở nam giới và nữ giới
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm