Chức năng bình thường của bàng quang
Thận của bạn lọc chất cặn và nước thừa để tạo ra nước tiểu. Nước tiểu đi xuống theo 2 ống hẹp gọi là niệu quản và sau đó được giữ ở một cơ quan có hình quả bóng được gọi là bàng quang. Bàng quang căng khi nó đầy và xẹp lại khi nó rỗng. Khi bàng quang được làm rỗng, nước tiểu chảy ra ngoài cơ thể qua niệu đạo. Ở phụ nữ, lỗ niệu đạo nằm ở ngay trên âm đạo. Ở nam giới, lỗ niệu đạo nằm ở đầu của dương vật.
Khi bàng quang của bạn đầy, tín hiệu thần kinh được gửi lên não, kích thích nhu cầu phải đi tiểu. Khi bạn đi tiểu, tín hiệu thần kinh phối hợp cùng với sự thư giãn của các cơ đáy chậu và cơ niệu đạo (cơ thắt niệu đạo). Những cơ này nới lỏng, đẩy nước tiểu ra ngoài.
Nếu tất cả những điều này xảy ra 8 lần hoặc nhiều hơn mỗi ngày (bao gồm cả những lần vào ban đêm), bạn có thể gọi đó là tình trạng tiểu nhiều.
Tiểu nhiều có thể gây nên bởi sự hoạt động quá mức của bàng quang.
Bàng quang hoạt động quá mức xảy ra do cơ bàng quang bắt đầu co không tự chủ kể cả khi bàng quang không chứa nhiều nước tiểu. Sự co không tự chủ này tạo nên sự thôi thúc việc đi tiểu một cách đột ngột mà rất khó để kiểm soát hoặc dừng lại, và có thể dẫn đến tiểu tiện không tự chủ.
Nếu bạn nghĩ bạn mắc chứng bàng quang hoạt động quá mức, hãy đến gặp bác sĩ. Bác sĩ sẽ kiểm tra để chắc chắn rằng bạn không nhiễm trùng tiết niệu hay có các thành phần bất thường trong nước tiểu. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra bạn đã làm rỗng bàng quang hoàn toàn khi đi tiểu vì bạn có quá ít không gian để dự trữ nước tiểu. Ngoài ra bác sĩ sẽ:
Hầu hết kiểm tra niệu động học tập trung vào khả năng của bàng quang để giữ nước tiểu và làm rỗng bàng quang một cách đều đặn và hoàn toàn. Bài kiểm tra niệu động học có thể cho thấy việc bàng quang co không tự chủ gây nên rò rỉ nước tiểu.
Hầu hết các bài kiểm tra niệu động học không yêu cầu những chuẩn bị đặc biệt. Phụ thuộc vào bài kiểm tra, bạn có thể được yêu cầu làm đầy bàng quang. Trong một vài giờ sau đó, bạn có thể có chút khó chịu khi đi tiểu. Uống một cốc nước đầy mỗi 30 phút trong suốt quá trình này có thể giúp bạn giảm bớt khó chịu này.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Lưu ý cần thiết về nhiễm khuẩn bàng quang khi mang thai
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.