Nguyên nhân hiện nay còn chưa xác định rõ. Tuy nhiên nhiều người cho rằng bệnh có tính chất tự miễn với tình trạng nhiễm khuẩn làm khởi động một loạt các quá trình trong hệ thống miễn dịch. Bệnh thường khởi phát sau nhiễm virut, Chlamydia mycoplasma, Streptococus, Salmonella, Shigella...
Vệnh viêm khớp dạng thấp thiếu niên ít gặp hơn viêm khớp dạng thấp ở người lớn. Ở Việt Nam chưa có thống kê về bệnh này, nhưng một số thống kê ở Mỹ và châu Âu cho thấy, lứa tuổi mắc bệnh khoảng từ 2-16 tuổi, với tỷ lệ 1/1000 trẻ mỗi năm, nữ gặp nhiều hơn nam. Phần lớn trong số đó thường có diễn biến nhẹ, chỉ khoảng 1/10.000 trường hợp bệnh tiến triển nặng dần.
Tùy vào thể bệnh, người bệnh có các triệu chứng khác nhau.
Thể viêm một hay vài khớp: trẻ bị viêm dưới bốn khớp, thường gặp ở bé gái từ 2-5 tuổi (3 tuổi là nhiều nhất). Khi mắc bệnh thể này, trẻ thường bị tổn thương, đau các khớp xương ở gối, cổ chân, khuỷu tay và các khớp nhỏ như khớp bàn tay, bàn chân. Các khớp viêm không đối xứng.
Khuyến khích trẻ tham gia hoạt động ngoài trời.
Ở thể hệ thống hay còn gọi là thể Still trẻ em: trẻ có triệu chứng sốt cao, nổi ban màu hồng. Khớp viêm bị đau, nhất là khớp gối, sau đó đến các khớp khác như khớp cổ tay, cổ chân, bàn ngón tay… Bên cạnh tổn thương ở khớp, người bệnh có tổn thương ở vị trí khác như viêm ngoài màng tim, viêm thanh mạc, gan lách hạch to…
Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp âm tính: tỉ lệ mắc bệnh ở bé trai nhiều hơn bé gái. Thể này phổ biến ở trẻ trên 10 tuổi. Người bệnh bị viêm từ 5 khớp trở lên trong 6 tháng đầu. Các khớp viêm ở vị trí gối, cổ tay, cổ chân…
Viêm nhiều khớp yếu tố dạng thấp dương tính: bệnh hay gặp ở bé gái trên 10 tuổi, các biểu hiện viêm khớp giống như bệnh viêm khớp dạng thấp ở người lớn. Viêm các khớp nhỏ và nhỡ có tính chất đối xứng, người bệnh thường cứng khớp vào buổi sáng sau khi thức dậy. Thỉnh thoảng có biểu hiện ngoài khớp như hạt dưới da, viêm mạch. Nếu không được điều trị đúng cách, bệnh dễ để lại hậu quả và biến chứng nặng nề, ảnh hưởng đến chức năng vận động của trẻ.
Viêm khớp thể viêm nhiều điểm bám tận: bệnh thường gặp ở trẻ từ 12 – 16 tuổi, tỷ lệ bé trai mắc bệnh cao hơn bé gái. Các khớp viêm như khớp háng, gối, cổ chân hay các khớp nhỏ, khớp không đối xứng. Thể này tiến triển nhanh, dẫn đến dính khớp gây tàn phế.
Viêm khớp vảy nến: thường xuất hiện ở lứa tuổi 7-11 với các biểu hiện tổn thương ở khớp. Viêm ở cả khớp lớn và khớp nhỏ, các khớp viêm không đối xứng, tổn thương nặng nhất ở khớp gối. Triệu chứng ngón tay, chân hình “khúc dồi” và những tổn thương lõm hoặc bong ở móng tay, chân là những triệu chứng quan trọng để chẩn đoán bệnh.
Khi có triệu chứng viêm khớp thiếu niên, phụ huynh nên đưa trẻ đến bệnh viện có phòng khám chuyên khoa cơ xương khớp để thăm khám và điều trị kịp thời. Tùy tình trạng bệnh bác sĩ sẽ có phác đồ điều trị phù hợp. Điều trị bao gồm các biện pháp không dùng thuốc, dùng thuốc và điều trị ngoại khoa.
Điều trị bệnh ra sao?
Cố gắng duy trì các sinh hoạt thường ngày của trẻ như khuyến khích trẻ tham gia các hoạt động xã hội, học tập ở trường lớp bình thường như những trẻ khác. Tuy vậy khi bệnh tiến triển phụ huynh nên cho con nghỉ ngơi, chế độ dinh dưỡng tốt và đặc biệt có giấc ngủ đầy đủ.
Do tính chất của bệnh viêm khớp thiếu niên tự khởi phát ở tuổi thiếu niên, tổn thương nhiều vị trí, có thể có những biến chứng ảnh hưởng xấu đến việc học tập, sinh hoạt của trẻ nên việc điều trị cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa như thấp khớp học, nhi khoa, phục hồi chức năng, chuyên gia tâm lý kết hợp với sự chăm sóc của gia đình và hỗ trợ của nhà trường…
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.