Vì sao phụ nữ hay bị u xơ tử cung, xử trí thế nào?
U xơ tử cung (UXTC) là những khối u nhỏ phát triển và thành hình từ lớp cơ của tử cung. UXTC có thể có một hay nhiều u, đường kính thay đổi từ vài milimét đến vài chục milimét. UXTC là một loại u lành tính và thường không phát triển thành ung thư. Tuy nhiên,nếu thấy có những bất thường xảy ra như rối loạn kinh nguyệt, đi tiểu nhiều lần, tiểu tiện khó… là UXTC đã gây ra biến chứng ảnh hưởng đến sức khỏe.
Nguyên nhân nào gây UXTC?
Vì sao phụ nữ bị UXTC hiện nay vẫn chưa rõ, song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân phát sinh UXTC là do nồng độ estrogen trong cơ thể tiết ra nhiều và hoạt động mạnh dẫn đến tăng sinh tổ chức cơ và niêm mạc tử cung. Chính vì vậy khối u xơ có thể nhỏ lại và teo mất đi khi người phụ nữ đã mãn kinh. Một số tài liệu cho rằng, UXTC liên quan đến sức khỏe sinh sản: sẩy thai nhiều lần, hiếm muộn, vô sinh, phụ nữ sinh đẻ ít... có nguy cơ gây UXTC. Tuy vậy bệnh vẫn gặp ở phụ nữ đẻ nhiều con. Một số trường hợp đang mang thai nếu bị UXTC có thể dẫn đến một số nguy cơ như ngôi thai bất thường, sinh non, nhau thai bám ở vị trí bất thường (nhau tiền đạo, nhau cài răng lược…) Có thể thấy UXTC ảnh hưởng đến thiên chức làm mẹ, sức khỏe và chất lượng sống của phụ nữ. UXTC thường được phát hiện khi đi khám bệnh định kỳ. Bạn cũng có thể tự kiểm tra và phát hiện UXTC khi nằm ở tư thế ngửa, sờ thấy khối u nổi lên dưới lớp da bụng, nếu day nhẹ có cảm giác đau để phòng biến chứng và được điều trị nếu biết tầm soát sớm.

Nhận biết u xơ tử cung
UXTC có thể nằm ở phần thân tử cung (96%), eo tử cung (1%), cổ tử cung (3%) cũng có thể nằm trong lớp cơ tử cung, nằm dưới lớp niêm mạc của buồng tử cung, có thể có cuống, làm cho khối u xơ giống như một dạng polype, thòng vào trong lòng tử cung. Khi khối u xơ nhỏ, người phụ nữ hoàn toàn không có bất cứ triệu chứng bệnh lý nào và có thể “chung sống” với nó.
Tuy nhiên, sự phát triển của khối u chịu ảnh hưởng của nội tiết tố estrogen, khi lượng estrogen tăng cao sẽ làm cho khối u phát triển to lên. Tùy theo độ lớn và vị trí của khối u gây áp lực lên thành tử cung, chèn ép lên các cơ quan của cơ thể gây ra những biểu hiện như: đau tức vùng hạ vị hoặc hố chậu, đau nhiều hơn trước hoặc trong khi hành kinh; đau tức vùng bụng dưới trong và sau khi giao hợp; bụng to ra trông như người đang mang thai khi khối u to, chèn lên dạ dày; Rối loạn tiểu tiện (bí tiểu, tiểu tiện nhiều lần, tiểu dắt, tiểu són) khi khối u chèn vào bàng quang, chèn vào niệu quản làm ứ đọng nước tiểu và gây táo bón khi khối u chèn vào trực tràng… Các bác sĩ chuyên khoa sẽ cân nhắc phương pháp điều trị phù hợp.
Phương pháp điều trị
Tùy thuộc vào vị trí, số lượng, kích thước và mức độ phát triển của khối u. Trường hợp UXTC nhỏ, tiến triển chậm, không biểu lộ triệu chứng, chưa gây biến chứng, phụ nữ trong độ tuổi mãn kinh UXTC sẽ không phát triển nữa… Do vậy, có thể không can thiệp bằng phẫu thuật, bệnh nhân được theo dõi, tái khám, điều trị nội khoa. Dùng thuốc để kích thích làm teo khối u hoặc sử dụng kỹ thuật xoắn để néo chân u xơ rồi đưa u xơ ra ngoài từ cổ tử cung.
Điều cần lưu ý là đối với những phụ nữ UXTC có kích thước lớn đang đến thời kỳ mãn kinh để u xơ ngừng phát triển cần thận trọng không nên sử dụng nội tiết có liên quan đến estrogen vì nhóm nội tiết này có thể làm cho UXTC phát triển to lên.
Trong trường hợp điều trị nội khoa không hiệu quả, khối u tử cung phát triển to, chèn ép các cơ quan lân cận, gây ra những biến chứng nghiêm trọng, cần điều trị bằng phương pháp phẫu thuật. Bóc tách nhân xơ bảo tồn tử cung hoặc có khi cắt một phần hay toàn bộ tử cung để loại bỏ hoàn toàn UXTC hoặc điều trị bằng phương pháp gây tắc động mạch nuôi khối u.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: U xơ tử cung khi mang thai có đáng lo ngại?
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.