Tủy răng nằm trong hốc tủy được bao bọc xung quanh bởi lớp mô cứng của răng - đó là ngà (ngoại trừ lỗ chóp chân răng). Đặc điểm của mạch máu tủy răng là mạch máu tận cùng, vào ra hốc tủy bởi lỗ chóp chân răng nên khi tủy bị viêm thì dễ bị sung huyết đè nén gây đau nhức và dễ bị hoại tử. Bệnh lý tủy thông thường là biến chứng của sâu răng, chúng có thể bị viêm do vi khuẩn, hóa chất và nhiều yếu tố khác.
Nguyên nhân do đâu?
Tác nhân gây bệnh lý tuỷ răng thường gặp nhất là vi khuẩn... Các yếu tố khác như: hóa chất (nhiễm độc chì, thủy ngân...), sang chấn, thay đổi áp suất môi trường... cũng có thể gây bệnh lý tủy răng.
Bệnh lý tủy răng là một bệnh hay gặp và khá phổ biến, thông thường viêm tủy thường bắt đầu từ sâu răng không được điều trị đúng và kịp thời, những vi khuẩn tồn tại ở trong miệng, xâm nhập tuỷ răng chủ yếu qua các lỗ sâu và gây bệnh. Ngoài ra, bệnh tủy răng còn do các nguyên nhân khác như vỡ hay mẻ răng, do chấn thương làm đứt mạch máu nuôi tủy răng, mòn răng quá nhiều, viêm tủy do viêm quanh răng...
Diễn biến của bệnh
Giai đoạn 1: Viêm tủy răng có khả năng hồi phục, người bệnh thường bị sâu răng mà không phát hiện hoặc không được điều trị. Người bệnh tự nhiên thấy xuất hiện cơn đau thoáng qua hoặc trong quá trình ăn uống bị đau do kích thích như ăn ngọt, chua, lạnh, thời gian đau ngắn khoảng vài giây. Thực chất cơn đau là đau nhói và khu trú nên giai đoạn này nếu được điều trị kịp thời tuỷ răng sẽ phục hồi.
Giai đoạn 2: Viêm tủy răng cấp, cơn đau tự phát kéo dài thường hay xảy ra vào ban đêm, nhất là khi bệnh nhân nằm xuống. Cơn đau có thể do kích thích như sự thay đổi nhiệt độ, thức ăn lọt vào lỗ sâu. Cơn đau có thể nhói hay âm ỉ, khu trú hay lan tỏa, đau từng cơn hay liên tục. Hết cơn, người bệnh lại bình thường. Nếu có mủ, người bệnh đau dữ dội hơn, đau giật như mạch đập, như gõ trống trong tai, răng đau có cảm giác lung lay nhẹ và trồi cao hơn các răng khác.
Giai đoạn 3: Viêm tủy mạn tính, người bệnh thường đau tự nhiên từng cơn âm ỉ, liên tục hàng giờ, khoảng cách giữa các cơn đau rất ngắn. Tùy hình thể bệnh do một kích thích cường độ nhẹ liên tục trên mô tủy giàu mạch máu, thường gặp ở những bệnh nhân trẻ. Bệnh nhân không có triệu chứng trừ một cơn đau nhẹ thoáng qua khi nhai. Khám có một nốt đỏ mọc giữa thân răng dùng thám trâm chọc vào bệnh nhân đau ít, đồng thời máu chảy ra nhiều.
… Và những hệ lụy
Viêm tủy có khả năng hồi phục nếu chẩn đoán đúng và tủy được bảo vệ, tủy có thể trở về trạng thái bình thường, ngược lại, nếu tủy không được bảo vệ thì triệu chứng có thể dai dẳng hoặc dẫn đến viêm tủy không có khả năng hồi phục sẽ bị hoại tử. Răng chết tủy không được điều trị dẫn đến viêm quanh chóp chân răng, áp-xe quanh chóp răng và có thể sẽ phát sinh các biến chứng như viêm quanh cuống răng, rụng răng, viêm xương, viêm hạch rất nguy hại cho sức khoẻ.
Khi răng có các triệu chứng như: lỗ sâu lớn, răng bị sang chấn kèm theo các dấu hiệu đau nhức từng cơn tự nhiên (đau tăng dần về đêm), răng bị đổi màu bất thường..., người bệnh cần đến bác sĩ ngay để được khám và điều trị vì có thể tủy răng đã bị viêm hoặc hoại tử.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng sâu răng nói chung và bệnh lý tủy răng nói riêng, cần vệ sinh răng miệng đúng cách. Hằng ngày, chải răng và súc miệng sau khi ăn hoặc 2 lần (sáng, tối). Dùng chỉ nha khoa để lấy thức ăn ở những kẽ sít, chỉ dùng tăm để khều thức ăn giắt ở kẽ răng, không dùng để xỉa ở các kẽ răng vì sẽ làm rộng kẽ và mòn men cổ răng.
Dinh dưỡng ảnh hưởng trực tiếp trên răng và vi khuẩn, làm gia tăng hoặc làm chậm các bệnh răng miệng, nhất là đối với trẻ nhỏ cần ăn nhiều các thực phẩm tốt cho răng gồm: sữa, phô-mai, đậu nành, bầu dục, các loại đậu, rau cải, bông cải xanh, tôm cua... chứa nhiều canxi; các loại củ quả như: cam, chanh, cà chua, các loại rau cải xanh, cá biển chứa nhiều vitamin C, vitamin D...
Nên ăn đúng bữa, đúng lúc, đủ các loại dinh dưỡng, tránh ăn vặt nhiều lần trong ngày. Khi răng có các triệu chứng như: lỗ sâu lớn, răng bị sang chấn kèm theo các dấu hiệu đau nhức từng cơn tự nhiên (đau tăng dần về đêm), răng bị đổi màu bất thường..., phải đến bác sĩ ngay để được khám và điều trị.
Cần khám răng định kỳ 6 tháng/lần, mỗi năm 2 lần, đặc biệt là trẻ em nhằm phát hiện sớm tổn thương, đánh giá tình hình bệnh tật và điều trị sớm, hạn chế gây biến chứng.
Quả lê mọng nước giàu chất xơ và vitamin C giúp dưỡng ẩm niêm mạc phế quản, tăng sức đề kháng, bảo vệ hệ hô hấp khi giao mùa. Vậy ăn bao nhiêu là đủ?
Bước vào lớp 1 là một bước ngoặt lớn, khiến nhiều trẻ không khỏi bỡ ngỡ, lo lắng hay sợ hãi khi phải thay đổi môi trường và làm quen với nếp sống quy củ. Bên cạnh áp lực tâm lý, môi trường học đường đông đúc cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm. Nhằm giúp các bậc phụ huynh chuẩn bị một bệ phóng hoàn hảo cho con cả về thể chất lẫn tinh thần, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin khoa học và thiết thực ngay dưới đây.
Tuổi 50 là thời điểm cần chú ý thay đổi lối sống và dinh dưỡng để bảo vệ sức khỏe tim mạch.
Mùa hè mang đến những chuyến du lịch biển sôi động, những buổi dã ngoại ngoài trời và sự phong phú của các loại thực phẩm giải nhiệt. Tuy nhiên, thời tiết nắng nóng gay gắt kết hợp với độ ẩm cao lại là môi trường lý tưởng cho các loại vi khuẩn, nấm mốc phát triển và làm biến chất thức ăn với tốc độ chóng mặt.
Nhiều người băn khoăn không biết nên sử dụng rau má tươi hay rau má khô hàng ngày tốt cho sức khỏe hơn?
Giao mùa hè thu với nền nhiệt độ cao và những cơn mưa rào liên tiếp là điều kiện lý tưởng để các loài côn trùng gây bệnh sinh sôi, phát triển mạnh mẽ.
Thay đổi cách lựa chọn và kết hợp thực phẩm có thể giúp cải thiện mức cholesterol. Bốn điều chỉnh đơn giản dưới đây hỗ trợ xây dựng chế độ ăn tốt cho tim mạch.
Tư thế nằm ngủ có lẽ là điều mà bạn và cả gia đình đang lo lắng nếu nhà bạn có một em bé mới sinh: ngủ sấp hay ngửa. Bạn có biết rằng các chuyên gia đều đồng ý rằng: Cho bé ngủ nằm ngửa là cách ngủ an toàn duy nhất. Nhưng tại sao cho trẻ ngủ nằm ngửa lại quan trọng như vậy? Và khi nào bạn có thể cho bé lật người nằm sấp? Hãy đọc tiếp qua bài viết sau!