Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Nên làm xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) bao lâu 1 lần?

Xét nghiệm phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) có thể cứu được mạng sống của nhiều người. Hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu về loại xét nghiệm này.

PAP smear là gì?

Bạn hẳn đã từng nghe đến thuật ngữ Pap smear nhưng có thể bạn không biết chính xác Pap smear là gì hoặc tại sao nữ giới cần tiến hành xét nghiệm này.

Mặc dù quy trình PAP smear có thể gây khó chịu với một số người, nhưng thường sẽ không gây đau đớn và rất quan trọng và cần thiết để tiến hành xét nghiệm này. Các hướng dẫn gần đây cho thấy rằng, số người tiến hành sàng lọc Pap smear trong những năm gần đây đang giảm nhẹ vì ngày càng có nhiều người được tiêm vaccine dự phòng HPV. Pap smear là một xét nghiệm nhằm thu thập các tế bào từ cổ tử cung để tìm kiếm dưới kính hiển vi xem những tế bào đã thu thập có chứa tế bào tiền ung thư hoặc ung thư hay không. Sau đó, các phương pháp điều trị sớm có thể được đưa ra để dự phòng hoặc ngăn ngừa ung thư cổ tử cung trước khi bệnh khởi phát. Pap smear được coi là một trong những biện pháp dự phòng ung thư cổ tử cung quan trọng nhất trong thế kỷ 20.

Tại sao Pap smear lại quan trọng?

Ung thư cổ tử cung

Pap smear giúp phát hiện và dự phòng tình trạng ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu năm 2012 trên 1230 phụ nữ tại Thụy Điển được chẩn đoán ung thư cổ tử cung chỉ ra rằng những trường hợp ung thư được phát hiện bằng xét nghiệm Pap smear có 92% khả năng chữa khỏi, trong khi tỷ lệ này ở những trường hợp ung thư phát hiện do xuất hiện triệu chứng chỉ là 66%. Nghiên cứu khác năm 2018 trên tạp chí  BMC Pregnancy and Childbirth chỉ ra rằng tiến hành xét nghiệm Pap smear định kỳ trong giai đoạn sớm của thai kỳ có thể phát hiện được 92% số trường hợp ung thư cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung là bệnh ung thư gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ tại Mỹ, theo thống kê CDC. Do phụ nữ ngày nay tiến hành xét nghiệm Pap smear thường xuyên hơn, nên số lượng ca ung thư cổ tử cung và số lượng ca tử vong do ung thư cổ tử cung đã giảm đi đáng kể trong vòng 40 năm vừa qua. Ở những quốc gia mà phụ nữ không thường xuyên xét nghiệm Pap smear, tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung thường sẽ cao hơn.

HPV

HPV là một bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến. Nếu không được tiêm vaccine thì hầu như những người hoạt động tình dục sẽ bị nhiễm bệnh vào một thời điểm nào đó trong đời, thậm chí họ còn không biết là mình đã nhiễm bệnh. Có hơn 100 loại HPV khác nhau, và đa số không gây ra các triệu chứng rõ ràng, trong khi một số ít lại có thể gây mụn rộp sinh dục. Nhiều loại HPV có thể gây thay đổi tế bào ở cổ tử cung và có thể biến tế bào này trở thành tế bào ung thư theo thời gian. Hệ miễn dịch của nhiều người sẽ có thể tự vượt qua tình trạng nhiễm HPV mà không gặp phải bất cứ vấn đề gì trong khi một số người khác sẽ bị tổn thương các tế bào có thể dẫn đến ung thư. Các yếu tố nguy cơ khác như hút thuốc lá có thể là vấn đề vì sẽ khiến cơ thể khó làm giảm tình trạng nhiễm HPV hơn. Nhiễm HPV kéo dài có thể liên quan đến các bất thường về tế bào cổ tử cung nên đôi khi sàng lọc sớm HPV và thường xuyên xét nghiệm PAP smear định kỳ sẽ đi kèm với nhau.

Hướng dẫn về xét nghiệm Pap smear

Nhìn chung, nữ giới nên tiến hành xét nghiệm Pap smear 3-5 năm một lần. Trước đây phụ nữ được khuyến cáo nên xét nghiệm Pap smear hàng năm, nhưng quá trình phát triển từ các bất thường nguy cơ thấp đến ung thư cổ tử cung mất khoảng 15 năm. Do vậy, việc đưa ra khuyến nghị mới về việc 3-5 năm xét nghiệm một lần vẫn cho phép các bác sĩ phát hiện các bất thường sớm mà không làm tăng số lượng can thiệp không cần thiết. Hạn chế các can thiệp không cần thiết là mục tiêu khiến cho Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ đưa ra cập nhật mới về tần số xét nghiệm Pap smear năm 2020. Hướng dẫn mới khuyến cáo rằng nên bắt đầu sàng lọc ở độ tuổi 25 thay vì 21, vì vaccine HPV có thể có tác dụng dự phòng tình trạng nhiễm trùng rất tốt. Các chuyên gia khuyến cáo rằng thanh thiếu niên nên tiêm vaccine HPV để bảo vệ chống lại không chỉ tình trạng ung thư cổ tử cung mà còn bảo vệ trước các tình trạng mụn rộp sinh dục và ung thư âm đạo, âm hộ, dương vật và hậu môn.

Tại Mỹ, vaccine HPV đã trở nên phổ biến vào năm 2006 và dẫn đến giảm tỷ lệ mắc HPV và tiền ung thư cổ tử cung ở những người dưới 20 tuổi. Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ khuyến nghị như sau:

  • Dưới 21 tuổi: không cần phải sàng lọc
  • Từ 21-29 tuổi: xét nghiệm HPV mỗi 5 năm một lần. Xét nghiệm PAP smear 3 năm/lần
  • Từ 30 đến 65 tuổi: xét nghiệm HPV 5 năm/lần, PAP smear 3 năm/lần
  • Trên 65 tuổi: không cần sàng lọc nếu các xét nghiệm khác cho kết quả bình thường

Trên đây là tần suất xét nghiệm nếu các kết quả xét nghiệm của những lần trước đều bình thường. Bạn có thể sẽ được yêu cầu xét nghiệm thường xuyên hơn nếu các kết quả xét nghiệm của bạn bất thường. Nếu PAP smear cho kết quả bất thường, bạn cũng không nên quá lo lắng, vì tình trạng này rất phổ biến. Đa số mọi người có kết quả sàng lọc ung thư cổ tử cung bất thường sẽ không bj ung thư. Nếu bạn có kết quả PAP smear bất thường hoặc kết quả xét nghiệm cho thấy bạn đang nhiễm HPV, bác sĩ có thể khuyến nghị soi cổ tử cung. Dựa vào kết quả soi cổ tử cung, bác sĩ sẽ khuyến nghị làm xét nghiệm PAP smear thường xuyên hơn để kiểm soát vấn đề. Nếu sau nhiều lần sàng lọc, tế bào chỉ thay đổi ít thì đó là dấu hiệu cho thấy tình trạng bệnh có thể tự khỏi. Nếu tế bào thay đổi lớn, bác sĩ có thể sẽ khuyến nghị Khoét chóp cổ tử cung bằng vòng điện.

Những ai cần xét nghiệm PAP smear thường xuyên hơn?

Những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, ví dụ như nhiễm HIV/AIDS hoặc phơi nhiễm với DES khi còn là bào thai, bạn sẽ cần phải xét nghiệm thường xuyên hơn. Phơi nhiễm với các chất này sẽ làm tăng nguy cơ mắc các bất thường về hệ sinh sản và làm tăng nguy cơ mắc một số dạng ung thư cổ tử cung và âm đạo. Kể cả khi bạn không cần xét nghiệm PAP smear hàng năm, thì bạn vẫn cần đi khám sản phụ khoa định kỳ hàng năm.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những phương pháp điều trị ung thư cổ tử cung

Ths. Liên Hương - Viện Y học ứng dụng Việt Nam (theo Health) -
Bình luận
Tin mới
  • 26/10/2021

    Mẹo nhỏ đánh bay vết ố trên ấm chén uống trà

    Những vết ố vàng cứng đầu trên bộ ấm chén pha trà gây mất thẩm mỹ. Cùng tìm hiểu một số mẹo nhỏ đánh bay vết ố vàng trên ấm chén một cách dễ dàng nhé.

  • 26/10/2021

    Thừa răng

    Chúng ta đều sẽ có 2 loại răng trong suốt cả cuộc đời, đó là răng sữa và răng vĩnh viễn. Thông thường, con người sẽ có 20 răng sữa và 32 răng vĩnh viễn.

  • 25/10/2021

    Những lợi ích sức khỏe đáng kinh ngạc của quả thanh long

    Không chỉ là loại trái cây quen thuộc có màu sắc bắt mắt và hương vị thơm ngon, quả thanh long còn chứa nhiều dinh dưỡng, mang lại nhiều lợi ích sức khỏe như chống ung thư, hỗ trợ tiêu hóa,...

  • 25/10/2021

    Thời kỳ mãn kinh có thể gây mất ngủ không?

    Sau khi mãn kinh, lượng hormone sản xuất từ buồng trứng, bao gồm estrogen và progesterone, sẽ thấp hơn nhiều so với trước đây. Đối với một số người, quá trình chuyển đổi này đi kèm với rối loạn giấc ngủ.

  • 25/10/2021

    Chuyên gia dinh dưỡng chỉ cách chế biến gạo lứt cho người cao tuổi, người bệnh đái tháo đường

    Gạo lứt có hàm lượng chất xơ và giá trị dinh dưỡng cao hơn gạo trắng. Gạo lứt rất tốt cho người cao tuổi và người bệnh đái tháo đường nhưng không phải ai cũng biết dùng đúng.

  • 25/10/2021

    10 loại thực phẩm giúp giữ ấm cơ thể khi trời trở lạnh

    Bạn nên tăng cường ăn những loại thực phẩm sau đây để giữ ấm cho cơ thể, tăng sức đề kháng từ đó phòng chống được các bệnh thường gặp khi trời lạnh.

  • 25/10/2021

    Làm thế nào để phát hiện sớm ung thư vú?

    Tầm soát ung thư vú là biện pháp giúp sớm phát hiện bệnh, giảm chi phí và thời gian, tăng hiệu quả điều trị. Trong các phương pháp tầm soát bệnh, chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán, dò tìm những bất thường ở tuyến vú, đặc biệt là bệnh ung thư vú.

  • 25/10/2021

    Trẻ nên tập ăn dặm với rau củ quả nào?

    Việc cho trẻ tập ăn rau từ sớm giúp bổ sung chất xơ và vi chất cần thiết vào chế độ dinh dưỡng của bé. Theo chuyên trang Healthline, một số rau củ sau nên có trong thực đơn của trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên.

Xem thêm