Các bệnh như lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, viêm da cơ, xơ cứng bì... là những bệnh khớp tự miễn rất thường gặp. Vấn đề điều trị các bệnh lý này hiện nay tuy đã có nhiều loại thuốc nhưng chúng đều có những tác dụng phụ đáng kể. Các thuốc này chủ yếu là nhóm thuốc ức chế miễn dịch như corticoid, cyclophosphomid, methotrexat...
Hiện nay, một loại thuốc được đưa vào sử dụng trong các bệnh lý khớp tự miễn, hứa hẹn khắc phục một phần nhược điểm của các thuốc trên, đó là mycophenolat mophetil (MM).
M không phải là thuốc xa lạ, bởi nó đã được dùng tương đối phổ biến trong điều trị chống thải ghép tạng. Gần đây trong các nghiên cứu, các nhà khoa học lại phát hiện thêm vai trò của nó trong bệnh lý khớp tự miễn.
Tác dụng của thuốc
Trong các bệnh tự miễn dịch, các tế bào lympho T và B đóng vai trò rất quan trọng trong sinh bệnh học. MM có tác dụng lên các tế bào lympho T, B qua đó ức chế sự hình thành các kháng thể và các tế bào lympho T gây độc. Thuốc cũng đồng thời làm giảm sự trình diện của các phân tử kết dính, do đó gây ức chế sự gắn kết của các tế bào lympho với các tế bào nội mô, làm hạn chế vai trò các tế bào này trong các bệnh tự miễn.
Có hai dạng dùng của MM là đường uống và đường tiêm với sinh khả dụng đường uống bằng khoảng 94% so với đường tiêm tĩnh mạch. Dùng thuốc cùng thức ăn không làm giảm độ hấp thu thuốc nhưng làm giảm nồng độ tối đa của thuốc trong huyết tương từ 20- 40%.
Sau khi vào máu, thuốc được chuyển hóa nhanh thông qua quá trình thủy phân hầu như hoàn toàn thành dạng hoạt tính là acid mycophenolic. Phần lớn MM (> 90%) được bài tiết qua nước tiểu, khoảng 5,5% đào thải qua phân.
Thuốc được dùng như thế nào?
Trong chống thải ghép tạng, MM là một chỉ định sớm nhất và phổ biến nhất, dùng cho những bệnh nhân ghép gan, thận, tim... Thuốc được dùng phối hợp với cyclosporin và corticoid. Tuy nhiên, trong phạm vi bài này chúng tôi chủ yếu đề cập tới chỉ định của thuốc trong một số bệnh lý khớp tự miễn dịch.
Lupus ban đỏ hệ thống: đây là một bệnh ảnh hưởng tới rất nhiều cơ quan, đặc biệt khi thận bị tổn thương (viêm cầu thận do lupus) thì có tiên lượng xấu. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, MM có tác dụng tốt trong một số trường hợp bệnh viêm cầu thận lupus (với các typ III: viêm cầu thận tăng sinh ổ, IV: viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa, V: viêm cầu thận màng theo phân loại của tổ chức y tế thế giới). Thuốc MM được dùng trong điều trị duy trì sau khi bệnh nhân đạt được sự lui bệnh do dùng các thuốc miễn dịch tấn công (phổ biến là cyclophosphomide).
Khi đó, MM được dùng phối hợp với corticoid nhằm làm giảm liều cũng như tác dụng phụ của corticoid. So với một số thuốc ức chế miễn dịch khác thường dùng phối hợp với corticoid như cyclosporin, azathioprin, methotrexate thì MM có ưu điểm là ít tác dụng phụ hơn. Một số nghiên cứu cho thấy, MM còn được sử dụng cả trong điều trị tấn công đợt nặng của bệnh thận. Ngoài ra, một số tổn thương khác ngoài thận như da, khớp cũng có thể điều trị tốt với MM.
Viêm khớp dạng thấp: là một bệnh thường gặp, thường được điều trị bằng các thuốc chống khớp tác dụng chậm (dùng đơn độc hay phối hợp) như methotrexat, thuốc chống sốt rét tổng hợp chloroquin, sulphasalazin...
Tuy nhiên, trong một số trường hợp bệnh viêm khớp dạng thấp không đáp ứng (kháng) với các thuốc trên thì sử dụng MM cho hiệu quả tốt. Liều thường dùng là 1g hai lần trong ngày. Một nghiên cứu trên 153 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp dùng MM cho thấy, liều 2g/ngày cũng có hiệu quả trong khi tác dụng phụ trên dạ dày lại ít hơn. Hiệu quả rõ sau 4 tuần điều trị với đỉnh tác dụng vào tuần thứ 6-12.
Một số bệnh cơ xương khớp tự miễn khác như nhược cơ, viêm da cơ, xơ cứng bì, vảy nến... được điều trị bằng MM cũng cho kết quả khả quan, tuy nhiên số lượng nghiên cứu cũng như số lượng bệnh nhân chưa nhiều nên cần nghiên cứu thêm.
Ngoài ra, MM còn được sử dụng trong điều trị một số bệnh khác như pemphygus vulgaris, các bệnh lý viêm mạch (viêm động mạch Takayasu, u hạt Wengener), bệnh Crohn, xơ gan đường mật tự miễn, nhiễm trùng HIV...
Tác dụng phụ cần lưu ý
Thuốc có tác dụng trên đường tiêu hóa như tiêu chảy, nôn mửa.
Nguy cơ mắc các bệnh lý nhiễm trùng do ức chế hệ thống miễn dịch quá mức. Do vậy, khi dùng thuốc này, bệnh nhân cần phải được theo dõi lượng bạch cầu trung tính, nếu giảm dưới 1.500 bạch cầu/ml phải ngừng thuốc.
Nguy cơ bị u lympho bào và các loại u ác tính khác, đặc biệt ở da khi dùng MM kéo dài.
Thận trọng khi dùng thuốc ở phụ nữ có thai, cho con bú vì có thể gây sảy thai trong 3 tháng đầu, gia tăng nguy cơ sinh con dị dạng... Phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ cần sử dụng thuốc ngừa thai khi dùng thuốc MM, tuy nhiên cần lưu ý là dùng thuốc MM kéo dài có thể làm giảm nồng độ thuốc ngừa thai trong máu, dẫn đến mất tác dụng của thuốc ngừa thai.
Thuốc chống chỉ định với bệnh nhân dị ứng với MM hoặc acid mycophenolic.
Uống trà không phải là giải pháp giảm cân nhanh chóng nhưng nếu biết chọn loại trà và sử dụng đúng cách có thể hỗ trợ giảm cân, giảm mỡ bụng theo thời gian.
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?