Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Glucocorticoid đường hít có làm trẻ em hen phế quản bị chậm lớn?

Hen phế quản là một trong những bệnh lý mạn tính thường gặp nhất ở trẻ em. Theo số lieu của Tổ chức Y tế thế giới, trên toàn thế giới có khoảng 20 triệu trẻ bị hen phế quản, độ lưu hành của bệnh khoảng 4-10% số trẻ em nhiều nước trên thế giới. Trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, cả độ lưu hành, số ca nhập viện và tử vong do hen phế quản ở trẻ em đều có chiều hướng gia tăng, đặc biệt ở nhóm trẻ trên 4 tuổi.

Với những tiến bộ của y học trong những năm gần đây, người ta đã nhận thấy vai trò hết sức quan trọng của quá trình viêm mạn tính niêm mạc đường hô hấp trong cơ chế bệnh sinh của hen phế quản. Từ đó, glucocorticoid đường hít, một loại thuốc có tác dụng chống viêm tại chỗ rất mạnh đã được sử dụng rộng rãi như một thuốc nền tảng trong điều trị kiểm soát dài hạn hen phế quản.

Các nghiên cứu trên lâm sàng cho thấy, nếu được sử dụng sớm, thuốc có hiệu quả rõ rệt và vượt trội so với tất cả các thuốc chống hen khác trong việc kiểm soát triệu chứng lâm sàng và chức năng phổi, cũng như ngăn ngừa sự tiến triến triển của bệnh. Vì lí do này, glucocorticoid đường hít được khuyến khích sử dụng sớm cho tất cả các bệnh nhân hen phế quản mức độ trung bình và nặng, đặc biệt là ở trẻ em.
 
Đặc điểm quan trọng nhất của hầu hết các loại glucocorticoid đường hít là có tác dụng tại chỗ rất mạnh nhưng ít được hấp thu vào máu, đặc biệt là với các dẫn xuất mới như fluticasone propionate và budesonide. Do đó, nguy cơ xảy ra các tác dụng phụ toàn thân của glucocorticoid đường hít là tương đối thấp. 

Tuy nhiên, việc thuốc có làm chậm sự phát triển của trẻ em hay không vẫn luôn là một vấn đề được cả thày thuốc và gia đình người bệnh hết sức quan tâm. Để có câu trả lời cho vấn đề này, các nhà khoa học đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu nhằm đánh giá cả sự phát triển ngắn hạn và dài hạn của trẻ em khi sử dụng glucocorticoid đường hít ở các liều khác nhau. Tuy nhiên, việc đánh giá này cũng không dễ dàng do chính bản thân bệnh hen, nếu không được kiểm soát tốt, có thể làm cho trẻ bị dậy thì muộn và chậm lớn. 

Để đánh giá sự phát triển ngắn hạn của trẻ em, người ta tiến hành đo sự thay đổi chiều dài phần dưới của cẳng chân trong một khoảng thời gian vài ngày hoặc trong cùng ngày. Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy, liều thông thường đối với trẻ em của các loại glucocorticoid mới như fluticasone propionate £ 200 mg/ ngày và budesonide £ 800 mg/ ngày không gây bất cứ ảnh hưởng nào đến sự phát triển chiều dài phần dưới cẳng chân của trẻ. Tuy nhiên các loại glucocorticoid cổ điển như beclomethasone, flunisonide làm giảm rõ rệt sự phát triển này ở trẻ em.

Bên cạnh đó, để đánh giá sự phát triển dài hạn của trẻ em, người ta theo dõi sự phát triển chiều cao của trẻ trong một khoảng thời gian nhiều tháng hoặc nhiều năm. Cho đến nay, các nghiên cứu đã được tiến hành đều cho thấy, các glucocorticoid đường hít như fluticasone propionate và budesonide ở liều thông thường (£ 800 mg/ ngày) không gây ảnh hưởng đáng kể đến chiều cao cuối cùng của trẻ sau 3 - 5 năm sử dụng.

Thậm chí, một vài nghiên cứu sử dụng glucocorticoid đường hít liều khá cao cũng không nhận thấy có sự giảm sút chiều cao cuối cùng của trẻ so với nhóm đối chứng.

Tóm lại, việc sử dụng glucocorticoid đường hít với liều thông thường, đặc biệt là các dẫn xuất mới như fluticasone propionate và budesonide nói chung không gây nên những ảnh hưởng đáng kể đối với sự phát triển của trẻ em hen phế quản. 

Ths.Bs. Nguyễn Hữu Trường - Theo Trung tâm ứng Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng BV Bạch mai
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm