Tháng 10 năm 2015, Brazil chứng kiến sự gia tăng bất thường của các ca chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh - một chứng bệnh với biểu hiện kích thước đầu của trẻ nhỏ hơn rất nhiều so với bình thường.
Sự gia tăng của các ca bệnh này có liên quan đến virus Zika được truyền qua muỗi với những triệu chứng nhiễm virus nhẹ hoặc cứ 1 trong 4 người nhiễm virus không xuất hiện bất cứ triệu chứng nào.
Trung tâm Kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) cho biết, trong 250 phụ nữ mang thai được xác nhận là nhiễm virus Zika năm 2016 chỉ có 24 trường hợp ghi nhận có con bị dị tật bẩm sinh liên quan đến virus Zika.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã ghi nhận việc này vào năm 2016, nhưng Brazil lại báo cáo rằng mối liên quan giữa nhiễm virus Zika và chứng chứng đầu nhỏ cũng như hội chứng Guillain-Barré vẫn chưa được chứng minh một cách rõ ràng.
Hơn thế nữa, trên thực tế, nếu như virus Zika gây ra chứng chứng đầu nhỏ ở Brazil thì năm 2016 sẽ chính là năm bùng phát của dịch này đặc biệt là trong mùa muỗi phát triển như tháng 12, 1 và tháng 2. Tuy nhiên một chuyên gia của WHO cho biết: họ đã ghi nhận được nhiều ca nhiễm virus Zika năm 2016 nhưng không có trường hợp nào được báo cáo là bị chứng chứng đầu nhỏ.
Trước khi virus Zika lan rộng ra khắp Brazil, tỷ lệ các ca chứng đầu nhỏ không hề cao, do đó chúng ta cần phải nghĩ rằng chưa chắc là chỉ có mỗi virus Zika mới gây ra chứng đầu nhỏ.

Các nhà khoa học cho rằng, việc bùng phát dịch virus Zika năm 2015 khiến con người xuất hiện quá trình miễn dịch năm 2016. Như vậy có khả năng sự gia tăng các ca bệnh Guillan-Barre không hoàn toàn do virus Zika mà là do một loại arbovirus được truyền qua muỗi Aedes aegypti, ví dụ như virus chikungunya được biết đến như là nguyên nhân gây ra bệnh Guillan-Barre. Theo giả thuyết này, cả virus Zika và chikungunya có thể dẫn đến bệnh Guillan-Barre, nhưng chỉ có Zika mới được cho là có liên quan đến chứng đầu nhỏ. Nếu đúng như vậy thì điều gì đã xảy ra với virus Zika vào năm 2016.
Có thể những trường hợp đó đã bị chẩn đoán sai, nghĩa là không có nhiều trường hợp nhiễm Zika vào năm 2016. Tuy nhiên nhiều chuyên gia không đồng tình với giả thuyết này.
Bác sỹ Albert Ko- một chuyên gia dịch tễ học của Trường Y tế công cộng thuộc Đại học Yale cho biết chẩn đoán sai có thểxảy ra nhưng nó không phải là lời giải thích thỏa đáng cho toàn bộ câu chuyện diễn ra ở đây.
Nhiều nhà khoa học cho rằng nhiễm virus Zika trong suốt quá trình mang bầu là điều kiện cần cho việc phát triển chứng đầu nhỏ ở trẻ sơ sinh. Nói cách khác sự hiện diện của những yếu tố khác còn chưa được biết đến mới là điều kiện đủ cho bệnh Guillain-Barre. Vậy những nguyên nhân chưa được biết đến ở đây có thể là gì? một câu hỏi đã được đưa ra trước đó, bởi khi những ca chứng đầu nhỏ đầu tiên xuất hiện và chúng được thông báo là có liên quan đến virus Zika, các chuyên gia y tế cho rằng có thể sẽ xuất hiện làn sóng dị tật não bẩm sinh ở Brazil, nhưng điều đó lại không hề xảy ra.
Thay vào đó gần 90% các ca chứng đầu nhỏ năm 2015 ở brazil đều xảy ra ở phía đông bắc. Đa số các phụ nữ sinh con ở đây đều nghèo và sống trong những thành phố nhỏ hoặc sống trong những khu ở chuột ở những thành phố lớn.

Tuy nhiên những người khác lại cho rằng sốt dengue (sốt xuất huyết)cũng do muỗi Aedes lây truyền có thể liên quan.
Đây cũng có thể là một giả thuyết có thể xảy ra, do những lo ngại về virus Zikanên nhiều phụ nữ không muốn mang thaihoặc đi phá thai. Nhưng việc này chỉ có thể làm giảm một số lượng rất nhỏ chứ không nhiều như những gì người ta thống kê được.
Một nghiên cứu trên chuột cho thấy 80% những con chuột tiếp xúc với kháng thể chống virus dengue trước sau đó lại tiếp xúc với virus Zika sẽ tử vong trong khi nếu không tiếp xúc thì chỉ là 10%. Nghĩa là nhiễm virus dengue trước khi nhiễm virus Zika sẽ khiến tình trạng bệnh trở lên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt việc thiếu hụt vitamin A và kẽm cũng có liên quan đến nguy cơ cao mắc bệnh nhiễm trùng cũng như có vai trò trong việc cấu tạo , tham gia vào chức năng của não bộ. Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ đã đưa suy dinh dưỡng và nhiễm hóa chất độc hại là hai trong 3 yếu tố nguy cơ gây ra bệnh chứng đầu nhỏ. Yếu tố thứ ba là nhiễm khuẩn khi mang thai bao gồm rubela, cytomega virus, toxoplas và nhiều virus, vi khuẩn khác.
Thông tin thêm về virus Zika tại bài viết: 10 điều cần biết về virus Zika
Có một số người không thích ăn rau và trái cây. Mặc dù sức khỏe có thể vẫn bình thường nhưng về lâu dài thói quen ăn uống này làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạn tính.
Flavonoids là một nhóm hợp chất thực vật (phytonutrients) được tìm thấy rộng rãi trong trái cây, rau củ, trà và rượu vang đỏ. Chúng đóng vai trò cốt lõi trong việc duy trì sức khỏe.
Các kệ siêu thị ngày nay tràn ngập đủ loại gia vị giúp món ăn của bạn thêm bắt mắt và đậm đà. Mỗi loại gia vị có thời gian và cách bảo quản khác nhau. Bạn nên nắm được những quy tắc đó nếu không muốn những lọ gia vị của mình bị lãng phí phải bỏ đi. Hướng dẫn dưới đây sẽ giúp bạn biết nên bảo quản những loại gia vị quen thuộc (và cả những loại bạn muốn thử) ở đâu, cũng như thời gian sử dụng an toàn của chúng.
Trong hành trình chinh phục vẻ đẹp toàn diện, chúng ta thường mải mê tìm kiếm những dòng mỹ phẩm đắt tiền hay những bài tập cường độ cao để có da đẹp, dáng xinh mà quên mất rằng gốc rễ của một làn da rạng rỡ và một vóc dáng thanh mảnh nằm chính ở sự cân bằng năng lượng từ bên trong.
Sau 8 năm hoạt động, VIAM Clinic – đơn vị trực thuộc Viện Y học Ứng dụng Việt Nam – đã triển khai các hoạt động thăm khám và tư vấn dinh dưỡng cho trẻ em theo hướng chuyên sâu và cá thể hóa.
Tiểu nhiều lần vào ban đêm là tình trạng khá phổ biến. Người mắc chứng tiểu đêm thường xuyên phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu, khiến giấc ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, điều này có thể gây uể oải, mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Y học thời kỳ xa xưa đã biết dựa vào các loại cây và thảo mộc đặc biệt để chữa bệnh, và chúng vẫn luôn được coi trọng trong xã hội hiện đại. Đối với y học hiện đại, y học cổ truyền đóng một vai trò quan trọng, với các hợp chất và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe mang tính an toàn tương đối cao khi sử dụng hợp lý.
Magie là khoáng chất thiết yếu, tham gia vào hơn 300 phản ứng enzyme trong cơ thể, hỗ trợ chức năng cơ bắp, thần kinh, tim mạch và chuyển hóa năng lượng. Thời gian magie tồn tại trong cơ thể phụ thuộc vào một vài yếu tố, nhưng hầu hết các loại magie sẽ được đào thải trong vòng một hoặc hai ngày.