Dấu hiệu dễ thấy của bệnh là ngứa, nóng, rát, đỏ da, có cảm giác lăn tăn ở môi, sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti, tập trung thành từng đám trên môi hay quanh môi (đôi khi còn ở miệng, má, cằm, mũi). Những mụn này chứa đầy dịch, khi bị vỡ, dịch chảy ra ngoài làm lây bệnh. Mụn rộp ở môi không phải hiện tượng dị ứng như một số người tưởng, cũng không phải do nhiễm vi khuẩn. Bệnh gây ra bởi virus herpes simplex nhóm I (khác với herpes simplex nhóm II gây mụn rộp ở bộ phận sinh dục).
Bệnh nhân thường có các triệu chứng kèm theo như hạch cổ, hạch dưới hàm sưng to, đau; sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, đau họng...
Sau 1-2 tuần, các mụn nước sẽ tự khô đi, đóng mày và sẽ lành mà không để lại sẹo. Nếu các mụn nước bị vỡ, chúng sẽ tạo ra các vết loét hay vết trượt, rồi cũng đóng mày và lành sau 10 ngày nhưng dễ bị nhiễm trùng hơn và gây lây lan virus herpes nhiều hơn.
Bệnh mụn rộp do herpes rất dễ tái phát khi có các yếu tố thuận lợi vì loại virus này vẫn tồn tại mãi mãi trong cơ thể, kể cả khi các vết rộp biến mất.
Khoảng 80% dân số có virus này nằm yên trong cơ thể nhưng chỉ khoảng 25% phát bệnh, thường xảy ra chủ yếu ở trẻ em, khi có điều kiện thuận lợi. Mỗi đợt kéo dài 1- 3 tuần, có những đợt tái phát, một năm có người tái phát 1-2 lần nhưng cũng có người đến 5-6 lần.
Tùy theo điều kiện thuận lợi mà bệnh có thể ở mức độ khác nhau. Nếu sức đề kháng vốn yếu hoặc bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch (như trẻ sơ sinh, thai phụ, ghép nội tạng, bị nhiễm HIV) thì bệnh thường nặng, tổn thương lan rộng, kéo dài, có biến chứng. Trong đa số trường hợp khác, bệnh thường nhẹ có thể tự khỏi trong vài tuần.
Tổn thương ở môi (khô, nứt môi, chấn thương, cắn vào môi khi ăn...).
Chấn thương răng miệng, sốt, cảm cúm, viêm đường hô hấp trên.
Hành kinh, có thai.
Suy nhược cơ thể, căng thẳng tinh thần, chấn thương thể chất.
Giảm sức đề kháng, giảm miễn dịch (AIDS, ung thư, đang xạ trị hay hóa trị, ghép tạng...).
Bệnh rất dễ lây truyền qua tiếp xúc (kể cả tiếp xúc gián tiếp như dùng chung khăn).
Điều trị mụn rộp ở môi tại nhà
Súc miệng bằng nước muối pha loãng để làm sạch, êm dịu vết thương và giảm nguy cơ bội nhiễm vi trùng. Tắm bằng nước ấm pha với muối hay thuốc tím thật loãng.
Dùng son dưỡng môi có vaseline và chất chống nắng (SPF>=15) để làm dịu các vết nứt (do thời tiết lạnh hoặc ánh nắng mặt trời gây ra. Không nên dùng kem hay phấn trang điểm để che đi những mụn rộp để tránh bội nhiễm.
Giảm tối đa căng thẳng, lo âu; tăng cường dinh dưỡng.
Không chạm vùng có sang thương (mụn nước, vết loét trợt) của mình vào người khác.
Không dùng chung đồ dùng cá nhân: bàn chải đánh răng, khăn tắm, khăn lau mặt, ly, bát đũa, son môi, phấn trang điểm và "khăn ướp lạnh".
Rửa tay sau khi bôi thuốc.
Tránh các loại thức ăn giàu arginine (một chất cần thiết cho chu kỳ tái sinh của virus herpes) như dừa, đậu nành, lạc, chocolate, cà rốt... Nên ăn các loại thực phẩm mềm và nhạt như rau quả, trái cây, giá, thịt bò, cá, gà... để tránh kích thích các vết lở và các vùng da nhạy cảm xung quanh.
Uống thuốc giảm đau thông thường (paracetamol) có hay không kèm codein (như Efferalgan Codein) trong 7-10 ngày đầu. Nếu bệnh kéo dài, trầm trọng, lan rộng, gây biến chứng nặng hoặc xảy ra ở những bệnh nhân đặc biệt (trẻ sơ sinh, thai phụ, bệnh nhân bị AIDS, ghép nội tạng), cần có sự theo dõi của bác sĩ.
Thuốc kháng virus:Chọn một trong ba loại acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Trường hợp nhẹ hay nặng đều nên dùng vì thuốc làm rút ngắn thời gian, giảm tái phát, giảm mức trầm trọng của bệnh. Dùng càng sớm càng tốt, ngay khi có dấu hiệu đầu tiên (ngứa, nóng rát, đỏ...).
Dùng liều cao ngay từ đầu (ví dụ như acyclovir mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 400 mg), mỗi đợt 5 ngày. Riêng với người bệnh có nhiễm HIV, đợt dùng tối thiểu 10 ngày, nếu dùng đường uống thì thuốc duy nhất được chọn là famcyclovir. Trong trường hợp cần thiết (người bệnh không dung nạp, hoặc đứng trước nguy cơ diễn biến xấu, kể cả trường hợp nhiễm HIV) thì có thể dùng acyclovir qua đường truyền tĩnh mạch.
Thuốc giảm đau: Đau thường không dữ dội nhưng kéo dài, gây khó chịu, nên chọn loại thuốc thông thường, ít gây tai biến.
Thuốc bôi tại chỗ: Trường hợp nặng hay nhẹ đều cần dùng. Bệnh nhẹ có khi chỉ cần dùng thuốc bôi ngoài là khỏi. Thuốc chăm sóc tại chỗ gồm: kem kháng virus acyclovir 5% có tác dụng như loại uống nhưng mức độ thấp hơn; các thuốc chống bội nhiễm (như dung dịch povidin, dung dịch milian) làm khô nhanh các vết trợt lở và đóng vảy; kem chống nắng bôi môi có chỉ số SPF khoảng 15; kem làm giảm đau xylocain.
Ngoài ra, cần súc miệng bằng nước muối, tắm nước ấm hay dung dịch thuốc tím pha loãng. Không nhất thiết phải dùng tất cả mà chỉ chọn loại cần thiết (ví dụ trong trường hợp nặng đã dùng kháng virus uống hay tiêm thì không cần dùng dạng kem).
Thuốc ngăn ngừa tái phát: Chỉ dùng thuốc ngừa tái phát thường xuyên, lâu dài với những người mỗi năm tái phát từ 6 lần trở lên. Phổ biến là dùng 6-18 tháng, khi mỗi năm chỉ còn tái phát từ 2 lần trở xuống thì ngừng. Dùng một trong 3 thuốc kháng virus acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Tuy dùng liều thấp hơn trong đợt điều trị cấp tính (bằng khoảng một nửa đến hai phần ba) nhưng vì dùng thường xuyên, lâu dài nên thuốc có tác dụng phụ (tuy không lớn) và tốn kém. Đây là điều phải cân nhắc.
Song song với việc dùng thuốc, bệnh nhân cần có chế độ dinh dưỡng tốt để làm tăng khả năng đề kháng. Tránh các loại thức ăn có hàm lượng arginin cao như dừa, đậu nành, chocolate, cà rốt... vì arginin là yếu tố cần để herpes simplex tái sinh. Tuy nhiên cần lưu ý không kiêng hoàn toàn các loại thức ăn này vì arginin cũng rất cần cho cơ thể.
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.
Tắm nước đá có thể giúp giảm đau cơ, cải thiện quá trình phục hồi sau khi tập luyện bằng cách giảm viêm và sưng, cải thiện sức khỏe chung. Tắm nước đá có nhiều cách, hiệu quả cũng khác nhau tùy mục tiêu mong muốn, khuyến cáo chung nên ngâm mình trong nước đá khoảng 10 đến 15 phút để đạt được những lợi ích tiềm năng.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa quốc tế cho thấy, việc bổ sung vitamin D3 liều cao trong thời kỳ mang thai có thể mang lại lợi ích vượt trội cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ.