Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chữa mụn rộp ở môi

Mụn rộp ở miệng hay dân gian còn gọi là giời leo với biểu hiện là những mụn nước xung quanh miệng do virus herpes simplex gây ra. Bệnh nghiêm trọng theo thời gian và dễ dàng lây qua tiếp xúc nhất là khi hôn nhau.

Dấu hiệu của bệnh

Dấu hiệu dễ thấy của bệnh là ngứa, nóng, rát, đỏ da, có cảm giác lăn tăn ở môi, sau đó xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti, tập trung thành từng đám trên môi hay quanh môi (đôi khi còn ở miệng, má, cằm, mũi). Những mụn này chứa đầy dịch, khi bị vỡ, dịch chảy ra ngoài làm lây bệnh. Mụn rộp ở môi không phải hiện tượng dị ứng như một số người tưởng, cũng không phải do nhiễm vi khuẩn. Bệnh gây ra bởi virus herpes simplex nhóm I (khác với herpes simplex nhóm II gây mụn rộp ở bộ phận sinh dục).

Bệnh nhân thường có các triệu chứng kèm theo như hạch cổ, hạch dưới hàm sưng to, đau; sốt nhẹ, nhức đầu, mệt mỏi, đau họng...

Sau 1-2 tuần, các mụn nước sẽ tự khô đi, đóng mày và sẽ lành mà không để lại sẹo. Nếu các mụn nước bị vỡ, chúng sẽ tạo ra các vết loét hay vết trượt, rồi cũng đóng mày và lành sau 10 ngày nhưng dễ bị nhiễm trùng hơn và gây lây lan virus herpes nhiều hơn.

Bệnh mụn rộp do herpes rất dễ tái phát khi có các yếu tố thuận lợi vì loại virus này vẫn tồn tại mãi mãi trong cơ thể, kể cả khi các vết rộp biến mất.

Khoảng 80% dân số có virus này nằm yên trong cơ thể nhưng chỉ khoảng 25% phát bệnh, thường xảy ra chủ yếu ở trẻ em, khi có điều kiện thuận lợi. Mỗi đợt kéo dài 1- 3 tuần, có những đợt tái phát, một năm có người tái phát 1-2 lần nhưng cũng có người đến 5-6 lần.

Tùy theo điều kiện thuận lợi mà bệnh có thể ở mức độ khác nhau. Nếu sức đề kháng vốn yếu hoặc bị các bệnh làm suy giảm miễn dịch (như trẻ sơ sinh, thai phụ, ghép nội tạng, bị nhiễm HIV) thì bệnh thường nặng, tổn thương lan rộng, kéo dài, có biến chứng. Trong đa số trường hợp khác, bệnh thường nhẹ có thể tự khỏi trong vài tuần.

Các yếu tố thuận lợi khởi phát bệnh rộp môi do herpes

Tổn thương ở môi (khô, nứt môi, chấn thương, cắn vào môi khi ăn...).

Chấn thương răng miệng, sốt, cảm cúm, viêm đường hô hấp trên.

Hành kinh, có thai.

Suy nhược cơ thể, căng thẳng tinh thần, chấn thương thể chất.

Giảm sức đề kháng, giảm miễn dịch (AIDS, ung thư, đang xạ trị hay hóa trị, ghép tạng...).

Bệnh rất dễ lây truyền qua tiếp xúc (kể cả tiếp xúc gián tiếp như dùng chung khăn).

Điều trị mụn rộp ở môi tại nhà

Súc miệng bằng nước muối pha loãng để làm sạch, êm dịu vết thương và giảm nguy cơ bội nhiễm vi trùng. Tắm bằng nước ấm pha với muối hay thuốc tím thật loãng.

Dùng son dưỡng môi có vaseline và chất chống nắng (SPF>=15) để làm dịu các vết nứt (do thời tiết lạnh hoặc ánh nắng mặt trời gây ra. Không nên dùng kem hay phấn trang điểm để che đi những mụn rộp để tránh bội nhiễm.

Giảm tối đa căng thẳng, lo âu; tăng cường dinh dưỡng.

Không chạm vùng có sang thương (mụn nước, vết loét trợt) của mình vào người khác.

Không dùng chung đồ dùng cá nhân: bàn chải đánh răng, khăn tắm, khăn lau mặt, ly, bát đũa, son môi, phấn trang điểm và "khăn ướp lạnh".

Rửa tay sau khi bôi thuốc.

Tránh các loại thức ăn giàu arginine (một chất cần thiết cho chu kỳ tái sinh của virus herpes) như dừa, đậu nành, lạc, chocolate, cà rốt... Nên ăn các loại thực phẩm mềm và nhạt như rau quả, trái cây, giá, thịt bò, cá, gà... để tránh kích thích các vết lở và các vùng da nhạy cảm xung quanh.

Uống thuốc giảm đau thông thường (paracetamol) có hay không kèm codein (như Efferalgan Codein) trong 7-10 ngày đầu. Nếu bệnh kéo dài, trầm trọng, lan rộng, gây biến chứng nặng hoặc xảy ra ở những bệnh nhân đặc biệt (trẻ sơ sinh, thai phụ, bệnh nhân bị AIDS, ghép nội tạng), cần có sự theo dõi của bác sĩ.

Các thuốc thường dùng

Thuốc kháng virus:Chọn một trong ba loại acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Trường hợp nhẹ hay nặng đều nên dùng vì thuốc làm rút ngắn thời gian, giảm tái phát, giảm mức trầm trọng của bệnh. Dùng càng sớm càng tốt, ngay khi có dấu hiệu đầu tiên (ngứa, nóng rát, đỏ...).

Dùng liều cao ngay từ đầu (ví dụ như acyclovir mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 400 mg), mỗi đợt 5 ngày. Riêng với người bệnh có nhiễm HIV, đợt dùng tối thiểu 10 ngày, nếu dùng đường uống thì thuốc duy nhất được chọn là famcyclovir. Trong trường hợp cần thiết (người bệnh không dung nạp, hoặc đứng trước nguy cơ diễn biến xấu, kể cả trường hợp nhiễm HIV) thì có thể dùng acyclovir qua đường truyền tĩnh mạch.

Thuốc giảm đau: Đau thường không dữ dội nhưng kéo dài, gây khó chịu, nên chọn loại thuốc thông thường, ít gây tai biến.

Thuốc bôi tại chỗ: Trường hợp nặng hay nhẹ đều cần dùng. Bệnh nhẹ có khi chỉ cần dùng thuốc bôi ngoài là khỏi. Thuốc chăm sóc tại chỗ gồm: kem kháng virus acyclovir 5% có tác dụng như loại uống nhưng mức độ thấp hơn; các thuốc chống bội nhiễm (như dung dịch povidin, dung dịch milian) làm khô nhanh các vết trợt lở và đóng vảy; kem chống nắng bôi môi có chỉ số SPF khoảng 15; kem làm giảm đau xylocain.

Ngoài ra, cần súc miệng bằng nước muối, tắm nước ấm hay dung dịch thuốc tím pha loãng. Không nhất thiết phải dùng tất cả mà chỉ chọn loại cần thiết (ví dụ trong trường hợp nặng đã dùng kháng virus uống hay tiêm thì không cần dùng dạng kem).

Thuốc ngăn ngừa tái phát: Chỉ dùng thuốc ngừa tái phát thường xuyên, lâu dài với những người mỗi năm tái phát từ 6 lần trở lên. Phổ biến là dùng 6-18 tháng, khi mỗi năm chỉ còn tái phát từ 2 lần trở xuống thì ngừng. Dùng một trong 3 thuốc kháng virus acyclovir, famcyclovir, valacylovir. Tuy dùng liều thấp hơn trong đợt điều trị cấp tính (bằng khoảng một nửa đến hai phần ba) nhưng vì dùng thường xuyên, lâu dài nên thuốc có tác dụng phụ (tuy không lớn) và tốn kém. Đây là điều phải cân nhắc.

Song song với việc dùng thuốc, bệnh nhân cần có chế độ dinh dưỡng tốt để làm tăng khả năng đề kháng. Tránh các loại thức ăn có hàm lượng arginin cao như dừa, đậu nành, chocolate, cà rốt... vì arginin là yếu tố cần để herpes simplex tái sinh. Tuy nhiên cần lưu ý không kiêng hoàn toàn các loại thức ăn này vì arginin cũng rất cần cho cơ thể.

Theo Khoa học TV Tổng hợp
Bình luận
Tin mới
  • 24/06/2026

    Ung thư phổi và những mối nguy hại đến hệ hô hấp của người cao tuổi

    Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.

  • 23/06/2026

    Bênh gút- Mối nguy hiểm không báo trước

    Khám phá ngay các biện pháp kiểm soát axit uric hiệu quả để xoa dịu cơn đau và ngăn ngừa bệnh tái phát, giúp bạn lấy lại nhịp sống năng động thường ngày

  • 22/06/2026

    Dị ứng trong mùa hè

    Mùa hè mang đến thời tiết ấm áp và những hoạt động ngoài trời thú vị. Tuy nhiên, đối với nhiều người, đây cũng là thời điểm khởi phát các triệu chứng dị ứng vô cùng khó chịu. Bài viết này cung cấp những kiến thức khoa học cần thiết để nhận biết nguyên nhân, triệu chứng và các biện pháp kiểm soát tình trạng dị ứng mùa hè một cách hiệu quả và an toàn.

  • 21/06/2026

    8 tác dụng phụ nguy hiểm của các loại thực phẩm chức năng phổ biến

    Hơn một nửa số người trưởng thành ở Hoa Kỳ sử dụng thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, thực phẩm chức năng không được quản lý chặt chẽ như thuốc, vì vậy điều cần thiết là phải nhận thức được các tác dụng phụ nguy hiểm có thể xảy ra để đảm bảo an toàn và sức khỏe.

  • 20/06/2026

    4 loại đồ uống ấm giúp bù nước hiệu quả như nước lọc

    Nước lọc nên là nguồn cung cấp nước chính cho cơ thể, nhưng các loại đồ uống nóng như trà và thậm chí cả cà phê cũng có thể góp phần vào mục tiêu uống đủ nước hàng ngày của bạn.

  • 19/06/2026

    Điều bất ngờ khi ăn 1 quả trứng gà mỗi tối

    Bỏ qua nỗi lo về lượng cholesterol hay hệ tiêu hóa phải làm việc quá tải, các nghiên cứu mới cho thấy ăn trứng luộc vào buổi tối chính là cách để có giấc ngủ ngon, đốt mỡ và phục hồi cơ bắp.

  • 19/06/2026

    Bệnh thiếu axit propionic (PA)

    Bệnh thiếu axit propionic (PA) là một rối loạn di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường. Bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm ở trẻ nhỏ nếu không được phát hiện và điều trị bệnh. Cùng tìm hiểu qua bài viết sau!

  • 18/06/2026

    4 lợi ích sức khỏe khi ăn hạt dưa hấu

    Đa số mọi người khi ăn dưa hấu thường ăn luôn cả hạt vì ngại nhặt nhưng thực chất hành động này lại vô tình bổ sung cho cơ thể những dưỡng chất đặc biệt có lợi cho sức khỏe.

Xem thêm