Chắp và lẹo mắt: nguyên nhân triệu chứng và cách điều trị
Nguyên nhân gây ra chắp và lẹo
Lẹo mắt thường do tụ cầu khuẩn hoặc vi khuẩn xâm nhập vào tuyến chân lông mi gây viêm nhiễm cấp tính. Chắp xuất hiện do có sự tắc nghẽn ống tuyến nhờn của mi mắt. Nhiều khi từ lẹo có thể chuyển thành chắp (xảy ra trong trường hợp lẹo trong thoát lưu hoặc không điều trị khỏi hẳn, gây chèn ép các tuyến)

Cách phân biệt bệnh chắp, lẹo mắt
Khi lẹo mới mọc, mi mắt của người bệnh sẽ hơi sưng, hơi đỏ, kèm theo ngứa và đau. Tiếp đó, chỗ đau nổi lên một khối rắn to như hạt gạo. Lẹo thường mọc ở ngay bờ mi, dính chặt vào da mi. Sau khoảng 3-4 ngày, lẹo sẽ mưng mủ và vỡ. Lẹo có đặc điểm là rất hay tái phát, có thể bị ở một hoặc 2 mi mắt, có khi sưng to cả mi mắt và gây ứ phù màng tiếp hợp.
Các dạng lẹo

-Lẹo trong do nhiễm trùng tuyến nhày của mi mắt: nằm ở mặt trong của mi mắt, bên trong đĩa sụn. Khi lật mi, bác sĩ có thể nhìn thấy được lẹo. Trong một số trường hợp còn có thể thấy đầu mủ trắng của lẹo.
-Lẹo ngoài do nhiễm trùng nang lông mi: Lẹo ngoài là một nốt đỏ, đau ở bờ mi với kích thước và độ rắn giống như hạt đậu.
-Đa lẹo: có rất nhiều đầu lẹo trên một mi hay cả hai mi, thậm chí ở cả hai mắt.
Triệu chứng thường gặp khi bị lẹo
Bệnh nhân bị lẹo thường sưng đỏ vùng mi mắt, ấn thấy đau bờ mi, sau hóa cứng, đồng thời bệnh nhân chảy nước mắt, sợ ánh sáng, cảm giác như có dị vật ở mắt; mưng mủ ở trung tâm chỗ hóa cứng, ít lâu sau áp-xe vỡ ra, chảy mủ rồi hết đau. Lẹo ở trong mi mắt diễn biến nặng hơn, áp-xe hiện ra ổ, thường tái phát.
Chắp mắt do tắc nghẽn tuyền nhày của mi mắt, biểu hiện như một khối tròn nhỏ, sưng đỏ. Vị trí thường ở xa bờ tự do của mi hơn so với lẹo.
Các dạng của chắp

Chắp nằm ở trong đĩa sụn và thường ở mặt trong của mi mắt; khi lật mi, bác sĩ có thể nhìn thấy được chắp, thậm chí là nhìn thấy đầu mủ trắng của chắp. Nhiều trường hợp đa chắp, tức là có rất nhiều đầu chắp trên một mi hay cả hai mi, thậm chí ở cả hai mắt.
Triệu chứng của chắp mắt
Khi bị chắp, người bệnh thường gặp các triệu chứng như: sưng mắt, đau, đỏ mắt, khó chịu ở bề mặt kết mạc của mi mắt. Sau vài ngày, chắp xẹp xuống chỉ còn khối tròn không đau, lớn dần trên mi mắt thành một khối màu đỏ – xám dưới kết mạc.
Điều trị chắp lẹo
Điều trị chắp lẹo cần dùng kháng sinh toàn thân để tiêu mủ ở thời kỳ đầu, kết hợp rửa mắt, nhỏ mắt bằng nước muối sinh lý. Chườm nóng có thể giảm triệu chứng đau đối với các tổn thương sớm. Đối với những lẹo to hoặc lẹo dai dẳng có thể sử dụng corticoid. Cũng có thể chích lẹo hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Lưu ý: Luôn rửa tay trước khi tra thuốc nhỏ mắt. Các thuốc sử dụng tra mắt phải được giữ gìn sạch sẽ, không dùng lại thuốc cũ, thuốc đã để lâu.

Với bệnh chắp, người bệnh nên chườm nóng nhằm giảm đau với các tổn thương sớm. Bác sĩ sẽ cho chích đối với chắp to hoặc chắp dai dẳng hoặc kết hợp cả hai phương pháp. Do chắp ở mi thường nằm sâu trong sụn nên khi chích phải loại bỏ thật sạch các chất nhầy để tránh tái phát chắp nhiều lần.
Khi có dấu hiệu bị chắp lẹo, người bệnh cần đi khám bác sĩ chuyên khoa mắt để được điều trị đúng cách. Mỗi bệnh sẽ được điều trị theo lộ trình khác nhau. Bệnh thường tự khỏi nếu biết giữ gìn và vệ sinh đúng cách. Người bệnh tuyệt đối không chữa chắp, lẹo bằng cách tự ý nặn mủ, tra thuốc không theo chỉ định vì dễ làm cho tổn thương lan rộng hoặc tái phát, hoặc để lại sẹo xấu gây quặp mi.
Lưu ý: Các ung thư tại mi mắt như (ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tuyến bã) có thể bị chẩn đoán nhầm là chắp. Vì vậy, nếu xuất hiện chắp dai dẳng, kéo dài hay không điển hình, chắp tái phát nhiều lần hoặc có nghi ngờ, đặc biệt là ở người lớn tuổi, cần xét nghiệm mô bệnh học.
Phòng ngừa chắp lẹo
-Mọi người không nên đưa tay dụi, chà mắt vì điều này có thể gây kích ứng mắt và nhiễm khuẩn lây lan.
-Cần có các biện pháp bảo vệ mắt khỏi khói bụi và ô nhiễm môi trường bằng cách: đeo kính bảo vệ mắt khi ra đường, khi dọn dẹp nhà cửa hay lao động. Tránh đến những nơi ô nhiễm không khí nặng nề.
-Nên rửa tay thường xuyên, đặc biệt là khi chăm sóc một người bị mụn lẹo ở mắt.
-Phụ nữ hay trang điểm, cần tẩy trang vùng mắt sạch sẽ hàng ngày, thay mascara ít nhất mỗi 6 tháng/ lần bởi vì vi khuẩn có thể phát triển khi mắt được trang điểm. Khăn rửa mặt, đồ trang điểm mắt cần được dùng riêng rẽ để giữ vệ sinh.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Phòng và điều trị lẹo mắt cho bé
Uống nước chanh pha hạt chia có thể cải thiện tiêu hóa và giúp ngăn ngừa táo bón. Thức uống này giúp kiểm soát lượng đường trong máu nhờ hàm lượng chất xơ có trong hạt chia và những chất dinh dưỡng có trong chanh.
Từng là bí kíp để giúp giò chả, bánh đúc hay bún trở nên ngon miệng, hương vị hấp dẫn hơn, nhưng hiện nay hàn the đã bị Bộ Y tế liệt vào danh sách cực độc và cấm sử dụng trong thực phẩm. Tại sao một hoạt chất có vẻ "tiện lợi" này lại trở thành kẻ thù của sức khỏe cộng đồng? Trong bài viết này, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ cung cấp thông tin giúp bạn có cái nhìn tổng quan về loại chất cấm này.
Ô nhiễm không khí và thời tiết lạnh khiến số ca nghẹt mũi, đau họng, ho, cảm lạnh gia tăng. Xông hơi bằng thảo dược tự nhiên là giải pháp đơn giản giúp thông xoang, làm dịu cổ họng và hỗ trợ đường hô hấp.
Hầu hết tóc của bạn được cấu tạo từ chất đạm (protein), cụ thể là keratin. Bổ sung chất đạm qua chế độ ăn uống có thể giúp tóc khỏe đẹp...
Táo giàu vitamin và chất xơ có lợi cho tiêu hóa. Có thể ăn táo vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày nhưng nếu mục đích ăn táo để giảm cân, hãy tham khảo 3 thời điểm hiệu quả nhất.
Hút thuốc lá từ lâu đã trở thành thói quen khó bỏ đối với hàng triệu người trên thế giới, đặc biệt là những người đã duy trì thói quen này qua nhiều năm. Tại Việt Nam, theo thống kê từ Bộ Y tế, tỷ lệ hút thuốc trong nam giới trưởng thành tuy có giảm từ 47,4% năm 2010 xuống còn 38,9% năm 2023, nhưng con số này vẫn cho thấy một thách thức lớn.
Cá khô là nguồn cung cấp protein, omega-3 và khoáng chất cô đặc. Nếu lựa chọn loại ít muối, cá khô có thể thay thế đồ tươi hiệu quả. Tham khảo danh sách 5 loại cá khô tốt nhất cho sức khỏe.
Nhiễm trùng bàng quang là một loại nhiễm trùng đường tiết niệu phát triển ở bàng quang, cơ quan rỗng chứa nước tiểu. Nhiễm trùng đường tiết niệu có thể phát triển ở bất kỳ vị trí nào trong hệ tiết niệu, bao gồm thận, niệu quản, bàng quang hoặc niệu đạo.