Theo các nghiên cứu khác nhau trên thế giới, khoảng 5 - 10% trẻ trên 5 tuổi có rối loạn đi tiểu. Khi được 2 tuổi, trẻ bắt đầu cảm nhận được cảm giác đầy bàng quang và có thể kiểm soát được việc đi tiểu vào ban ngày; từ 5 tuổi trở lên trẻ có thể kiểm soát được việc đi tiểu như người lớn. Do vậy, trẻ trên 5 tuổi mà chưa kiểm soát được việc đi tiểu là có rối loạn.
Những biểu hiện của rối loạn đi tiểu ở trẻ em bao gồm:
- Tiểu dầm: tiểu không kiểm soát khi trẻ đang ngủ.
- Tiểu không tự chủ: trẻ không có khả năng kiểm soát việc đi tiểu.
- Tiểu khó: tiểu đau, tiểu rát hoặc khó đi tiểu.
- Tiểu gấp: trẻ tiểu són ra quần ngay khi có mắc tiểu.
- Tiểu nhiều lần: tiểu nhiều hơn 1 lần mỗi giờ.
- Tiểu ít lần: số lần đi tiểu ít hơn 3 lần mỗi ngày.

Có khoảng 5 - 10% trẻ trên 5 tuổi có rối loạn đi tiểu.
Những rối loạn tiểu tiện này có khi chỉ ảnh hưởng chút ít đến sinh hoạt của trẻ nhưng cũng có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn. Khi trẻ đến trường, việc bị rối loạn này sẽ khiến trẻ bị mặc cảm, ngại giao tiếp và vui chơi không thoải mái, ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ. Nếu những rối loạn này không được điều trị sớm thì sẽ dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh như: nhiễm trùng tiểu tái phát, viêm đài bể thận cấp, thận ứ nước, trào ngược bàng quang niệu quản và nếu không điều trị triệt để sẽ dẫn đến suy thận.
Những rối loạn này có thể do 3 nhóm nguyên nhân chính gồm:
- Có sự bất thường về cấu trúc đường niệu.
- Có bất thường về thần kinh kiểm soát việc đi tiểu.
- Không có bất thường nào.
Sau khi thăm khám, tùy vào nhóm nguyên nhân, các bác sĩ sẽ có những cách điều trị khác nhau.
Nhóm rối loạn đi tiểu mà không có bất thường nào chiếm tỉ lệ cao tại các phòng khám Thận nhi. Triệu chứng chính của nhóm này là tiểu không kiểm soát ban ngày, tiểu dầm ban đêm và nhiễm trùng tiểu tái phát.
Sau 5 tuổi, các nguyên nhân gây tiểu dầm thường là: dung tích bàng quang nhỏ, không có khả năng cảm nhận việc làm đầy bàng quang, giảm khả năng kiểm soát đi tiểu khi ngủ say, tăng sản xuất nước tiểu vào ban đêm, tăng hoạt động cơ bàng quang và nguyên nhân tâm lý.
Mỗi năm, Bệnh viện Nhi đồng 1 tiếp nhận và điều trị thành công cho rất nhiều trẻ rối loạn đi tiểu ở trẻ em. Điển hình, bé gái 13 tuổi bị tiểu dầm mới được bệnh viện điều trị khỏi. Từ 4 tuổi, bé đã được gia đình đưa đi thăm khám ở nhiều bệnh viện nhưng được chẩn đoán là đái dầm do tâm lý, sẽ tự hết khi lớn lên. Nhưng sau 2 tuần điều trị bằng thuốc tại Bệnh viện Nhi đồng 1, bé đã hết tiểu dầm.
Rối loạn đi tiểu mới xảy ra trong thời gian ngắn thường liên quan đến nguyên nhân tâm lý. Bất cứ sự cố nào gây “stress” đối với trẻ cũng có thể gây rối loạn đi tiểu. Sau khi loại trừ nguyên nhân tâm lý, các bác sĩ sẽ thăm khám lâm sàng và đưa ra một số xét nghiệm cần thiết để chẩn đoán và theo dõi điều trị.
Rối loạn đi tiểu là vấn đề thường gặp ở trẻ em. Vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của trẻ mà đôi khi còn có những hậu quả nghiêm trọng hơn về sau. Thông thường, phụ huynh hay la mắng, phạt hoặc thậm chí đánh khi thấy trẻ có biểu hiện ướt quần vào ban ngày hoặc ban đêm. Tuy nhiên, những cách ứng xử như vậy không giúp cho trẻ giải quyết được vấn đề mà chỉ làm trẻ hoảng sợ.
Theo TS. BS Phạm Đình Nguyên - Bệnh viện Nhi Đồng 1, khi trẻ trên 5 tuổi mà có những biểu hiện rối loạn đi tiểu, các bậc phụ huynh nên đưa trẻ đến các bác sĩ chuyên khoa để được chẩn đoán sớm và điều trị phù hợp.
Ngoài ra, cha mẹ cũng cần phối hợp chặt chẽ với bác sĩ để giúp trẻ nhanh phục hồi khả năng tiểu tiện, hỗ trợ quá trình điều trị được tốt hơn và đưa trẻ quay lại cuộc sống sinh hoạt bình thường.
Với những trẻ nhỏ, cha mẹ có thể kích thích bằng cách xi trẻ trong vòng từ 2 - 3 phút để trẻ đi tiểu hết. Đối với những trẻ lớn hơn, cha mẹ hướng dẫn cho trẻ tư thế đúng khi đi vệ sinh là lưng thẳng ngả về phía trước (có thể kê thêm ghế dưới chân để trẻ thấy thoải mái). Đồng thời, cha mẹ nên tập cho trẻ thói quen ngồi lâu trong phòng vệ sinh, không mải chơi dẫn đến việc nhịn tiểu và không đi tiểu.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Dạy trẻ tập đi vệ sinh chủ động.
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.
Sức khỏe phụ nữ là nền tảng quan trọng cho hạnh phúc gia đình và sự phát triển bền vững của xã hội. Người phụ nữ hiện đại không chỉ đảm đương vai trò kinh tế mà còn gánh vác trách nhiệm chăm sóc gia đình, điều này vô tình tạo ra những áp lực lớn lên cả thể chất lẫn tinh thần. Việc trang bị kiến thức về các vấn đề sức khỏe thường gặp là bước đi tiên quyết để chị em chủ động bảo vệ bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ. Trong bài viết dưới đây, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chi tiết giúp chị em có cái nhìn tổng quan và khoa học nhất về vấn đề này.
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.