Theo lý luận của y học cổ truyền, ACNHH được xếp vào nhóm thuốc khai khiếu. đồng thời nó cũng là thuốc “lương khai”. Thuốc lương khai (khai khiếu mát) là thuốc vừa có tác dụng khai khiếu vừa có tác dụng làm mát để làm giảm bớt sức nóng bên trong cơ thể, trong tạng phủ, trong huyết mạch.
Sau đây xin giới thiệu một số trường hợp có thể dùng ACNHH:
Dùng trong chứng trúng phong. Theo YHCT không có bệnh danh tai biến mạch máu não (TBMMN). Tuy nhiên, các triệu chứng biểu hiện của TBMMN đều có trong chứng trúng phong của YHCT. Vì vậy, TBMMN thuộc phạm vi chứng trúng phong của YHCT. Cũng vì thế mà ACNHH được dùng phổ biến trong các bệnh TBMMN. Theo YHHĐ, TBMMN được phân thành xuất huyết não và nhồi máu não và điều trị khác nhau. Còn theo YHCT, chứng trúng phong gồm có hai mức độ: trúng phong kinh lạc và trúng phong tạng phủ. Với trúng phong kinh lạc không dùng ACNHH. Trúng phong tạng phủ, ACNHH được chỉ định nhưng cũng chỉ dùng ở thể dương bế trong bế chứng và chống chỉ định: Thoát chứng trong trúng phong tạng phủ.
Dùng trong ôn bệnh
Ôn bệnh là các bệnh sốt cấp tính thuộc nhiệt, thường phát theo mùa, là bệnh truyền nhiễm, có khi lây lan thành vụ dịch.
ACNHH có chỉ định khi bệnh đã tiến sâu vào tâm, dinh, huyết (bệnh thuộc lý), người bệnh có biểu hiện mê sảng, co giật, hôn mê, xuất huyết nhiều, phát ban.
Dùng trong một số bệnh nội khoa khác: kiết lỵ: thuộc thể độc lỵ; hoàng đản thuộc thể cấp hoàng; sốt rét: thuộc thể ác tính.
Nhìn chung, khi sử dụng các thuốc YHCT để điều trị bệnh thì cần phải nắm vững lý luận của YHCT. Người thầy thuốc YHCT đều phải xác định bệnh đó thuộc biểu hay lý (phía ngoài hay phía trong cơ thể), thuộc hàn hay nhiệt (nóng hoặc lạnh), thuộc hư hay thực.
Xét theo lý luận của YHCT, thuốc ACNHH được dùng như sau:
Thứ nhất: thuốc ACNHH chỉ dùng cho ôn bệnh.
Thứ hai: chỉ dùng ACNHH khi bệnh độc rất mạnh, đề kháng của cơ thể cũng rất mạnh.
Thứ ba: ACNHH chỉ dùng khi bệnh nhân rất nhiệt, sốt rất cao, vật vã, mê sảng.
Tóm lại là bệnh thuộc phần lý, thuộc phần thực, thuộc nhiệt mới có chỉ định dùng ACNHH.
Bài viết này chỉ nói về ACNHH nguyên phương của tài liệu kinh điển. Hiện nay, thuốc này đã được các nhà sản xuất cải tiến, thêm bớt hoặc thay thế các vị thuốc có trong bài thuốc thì cần phải thời gian nghiên cứu thêm nữa.
Các loại trúng phong
Theo YHCT, trúng phong được chia thành nhiều thể, tùy thuộc mỗi thể có cách điều trị riêng:
Trúng phong kinh lạc: Bệnh nhân không hôn mê, đột nhiên miệng mặt méo, cảm giác tê bì, co cứng, nói ngọng, nước giãi chảy ra bên góc miệng, có thể liệt nửa người, có thể sốt, đau nhức toàn thân, mạch nhu huyền.
Trúng phong tạng phủ chia làm hai loại bế chứng và thoát chứng.
- Bế chứng: Bệnh nhân hôn mê: đột nhiên ngã rồi hôn mê, co cứng, bàn tay nắm chặt, không duỗi (xòe) ra được. Hai hàm răng cắn chặt, toàn thân cứng đờ.
Ở thể dương bế: Ngoài triệu chứng chung còn có biểu hiện: mình nóng, trạng thái bứt rứt, vật vã, mắt đỏ, hơi thở hôi, rêu lưỡi vàng, chất lưỡi đỏ. Mạch huyền hoạt sác (căng, trơn, nhanh).
Ở thể âm bế: Ngoài triệu chứng chung còn biểu hiện: trạng thái li bì, chân tay lạnh, sắc mặt nhợt trắng, môi thâm, rất nhiều đờm dãi gây bế tắc. Rêu lưỡi trắng nhầy, mạch trầm hoãn hoạt (ấn sâu mới thấy, trơn).
- Thoát chứng: Bệnh nhân hôn mê sâu: đột nhiên choáng, ngã lăn xuống sàn hôn mê. Toàn thân duỗi thẳng, mềm nhũn, chân tay lạnh, bàn tay xòe ra, miệng há, mắt nhắm, mặt tái nhợt, hơi thở rất yếu, đại tiểu tiện không tự chủ, lưỡi mềm như héo rủ..., vã mồ hôi, mạch vi tế.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.
Các bậc cha mẹ luôn muốn điều tốt nhất cho con cái của mình. Đó là lý do tại sao rất nhiều bậc cha mẹ phải vật lộn với những lựa chọn nuôi dạy con. Và xét cho cùng, chúng ta cũng chỉ là con người, việc cảm thấy bực bội với con cái là điều bình thường, đặc biệt là khi chúng cư xử không đúng mực. Nhưng cách bạn thể hiện sự bực bội và giải quyết tình huống có thể ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và sức khỏe lâu dài của trẻ. Cùng đọc tiếp để tìm hiểu xem các nghiên cứu lâm sàng đã phát hiện ra về tác động lâu dài của việc la mắng đối với trẻ em!
Rối loạn nội tiết có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, cân nặng, chu kỳ kinh nguyệt và tâm trạng. Bên cạnh điều trị y khoa, một số loại trà được nghiên cứu cho thấy có thể hỗ trợ điều hòa hormone ở mức độ nhất định.
Trong xu hướng tìm kiếm các hợp chất tự nhiên để hỗ trợ sức khỏe, Kim ngân hoa nổi lên như một nguyên liệu tiềm năng nhờ khả năng can thiệp vào các lộ trình tín hiệu liên quan đến stress oxy hóa và viêm.
Trong xã hội hiện đại, phụ nữ thường phải đối mặt với áp lực lớn khi vừa khẳng định sự nghiệp vừa gánh vác trách nhiệm gia đình, dễ dẫn đến tình trạng kiệt sức và bất ổn tâm lý. Nhằm giúp phái đẹp bảo vệ nền tảng tư duy và cảm xúc, Viện y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về việc xây dựng các thói quen lành mạnh mỗi ngày. Đây chính là giải pháp thiết thực để cải thiện chất lượng sống, đồng thời tạo nên "tấm khiên" vững chắc giúp chị em phụ nữ duy trì sự cân bằng và vượt qua những biến động trong cuộc sống
Các loại hạt giàu omega-3 và chất béo không bão hòa giúp cải thiện cholesterol máu, giảm viêm và bảo vệ thành mạch. Bổ sung hợp lý trong khẩu phần ăn hằng ngày có thể góp phần phòng ngừa bệnh tim mạch.