Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn hải sản cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để đảm bảo an toàn.
Thạc sĩ, bác sĩ Lê Thị Hải, nguyên Giám đốc Trung tâm tư vấn dinh dưỡng, Viện Dinh dưỡng quốc gia tư vấn, trừ các loại hải sản có vỏ, bố mẹ có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn ngay từ 6 tháng tuổi khi bé bắt đầu ăn dặm.
Tuy nhiên đạm trong hải sản nói chung cũng như cá thường gây dị ứng cho trẻ, nên cho bé ăn từ tháng thứ 7 trở đi là cách tốt nhất để đảm bảo an toàn. Bố mẹ cần cho trẻ ăn từ từ từng ít một để thích nghi dần. Với những trẻ có cơ địa dị ứng, các bà mẹ cần phải thận trọng hơn.
Vẫn theo bác sĩ Lê Thị Hải, hầu hết các loại hải sản đều giàu canxi (nhất là các loại cá nhỏ ăn được cả xương) nên rất cần cho xương và răng.
Trong số các loại hải sản, cá biển là thực phẩm tuyệt vời đối với sức khoẻ do chứa đạm có giá trị sinh học cao với tỷ lệ cân đối, phù hợp với cơ thể người. Cá còn rất giàu chất béo không no omega 3 cần để tạo màng tế bào thần kinh và có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch. Do đó, ăn cá ít nhất 3 lần/tuần rất có lợi cho sức khoẻ. Gan cá còn rất giàu vitamin A và D. Những loại cá biển nên ăn như cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá basa với lượng omega 3 dồi dào.
Hàu giàu kẽm là thành phần của hơn 300 enzyme bên trong cơ thể, là chất cần thiết để trẻ tăng trưởng, và cũng rất cần để phát triển hệ sinh dục.
Tôm cũng là thức ăn giàu đạm và canxi, từ tháng thứ 7 trở di các bà mẹ có thể cho con ăn tôm biển.
Các loại hải sản có vỏ như hàu, ngao, hến, trai… nên cho bé ăn khi đã 1 tuổi bởi chúng chứa nhiều kẽm, một vi chất quan trọng đối với trẻ em.
Tuy nhiên, một số loại cá chứa hàm lượng thủy ngân và các chất ô nhiễm cao như cá mập, cá kình, cá lưỡi kiếm (cá cờ), cá thu lớn, cá ngừ lớn… cần tránh cho trẻ ăn.
Bác sĩ Hải khuyến cáo, điều quan trọng nhất khi cho bé ăn hải sản, các bà mẹ phải chọn lọai còn tươi, không ăn hải sản đã chết vì dễ gây ngộ độc thức ăn.
Về vấn đề này, bác sĩ Hải cho hay, có thể cho bé ăn 1-2 bữa từ hải sản mỗi ngày, nhưng tuỳ theo tháng tuổi sẽ có lượng ăn mỗi bữa khác nhau:
- Trẻ 7-12 tháng: mỗi bữa có thể ăn 20-30 g thịt của cá, tôm (đã bỏ xương, vỏ) nấu với bột, cháo. Mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3-4 bữa/tuần.
- Trẻ 1-3 tuổi: mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún , súp… Mỗi bữa ăn 30 - 40 g thịt của hải sản.
- Trẻ từ 4 tuổi trở lên: có thể ăn 1-2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50-60 g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn 1/2 con/bữa, tôm to có thể ăn 1-2 con/bữa (100 g cả vỏ).
Hải sản chế biến chưa chín hẳn (gỏi cá sống, hàu sống, sò, mực nướng…) có thể ẩn chứa vi trùng và ký sinh trùng. Đó là nguyên nhân của nhiều trường hợp nhiễm trùng đường ruột khi ăn hải sản.
Bên cạnh đó, ăn nhiều hải sản còn có khả năng nhiễm kim loại nặng như thuỷ ngân. Do đó, khi trẻ còn trong giai đoạn ăn bột và cháo, tốt nhất là xay, nghiền nhỏ cá, tôm để nấu bột hoặc cháo. Với cá nhiều xương, bố mẹ nên luộc chín cá rồi gỡ xương. Với cua, giã lọc lấy nước để nấu bột, cháo. Với tôm to thì bóc vỏ sau đó xay hoặc băm nhỏ, còn với tôm quá nhỏ có thể giã lọc lấy nước như nấu bột cua.
Đối với trẻ đã lớn hơn từ 3 tuổi trở lên, ngoài ăn các loại cháo, mỳ, miến… nấu với hải sản, có thể cho bé ăn dạng luộc hấp như cua luộc, ghẹ hấp,…
Lưu ý, tuyệt đối không cho trẻ ăn gỏi cá hoặc các loại hải sản còn sống, chưa chín kỹ.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.