Kháng sinh là loại thuốc được sử dụng nhiều trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đồng thời cũng là loại thuốc dễ bị lạm dụng. Khi vào cơ thể, kháng sinh được thải trừ qua thận và có thể gây hại thận ở các mức độ khác nhau.
Kháng sinh gây hại cho thận ở cả mức độ trực tiếp và gián tiếp (tác hại khi kết hợp với một số thuốc khác). Kháng sinh trực tiếp gây nhiễm độc thận, nhiễm độc ống thận, do gây thương tổn trực tiếp hoặc ở màng nhân tế bào biểu mô, lưới bào tương, ty lạp thể. Trường hợp có nhu mô thận quá mẫn cảm thì việc dùng một số kháng sinh có thể gây bệnh ở ống thận - mô kẽ. Kháng sinh có thể gây suy thận cấp do giảm lưu lượng máu đến thận. Tuy nhiên, tai biến này chỉ xảy ra khi người bệnh có kèm theo các chứng mất nước, mất máu, suy tim, xơ gan mất bù, hay khi dùng thuốc làm giảm prostaglandin sẽ làm giảm lưu lượng máu qua thận, giảm độ lọc cầu thận. Trường hợp người bệnh suy thận mạn phải dùng kháng sinh cũng dễ gặp tai biến do chức năng thận kém, độ lọc của cầu thận giảm làm cho kháng sinh sẽ tích liều gây độc thêm cho thận và gây ra các tác hại ở các cơ quan khác. Những trường hợp có chức năng thận yếu như: người cao tuổi, trẻ nhỏ, người suy thận… khi dùng kháng sinh, chu kỳ bán hủy thuốc kéo dài hơn người bình thường từ 3 - 5 lần. Do lưu lại lâu như vậy nên thuốc tích lại trong các cơ quan gây độc, trong đó gây độc nhiều nhất cho thận.

Suy thận là một trong các tai biến do dùng kháng sinh.
Các kháng sinh gây độc thận
Nhóm cephalosporin: Các kháng sinh cephalosporin được dùng khá phổ biến, nhất là với trẻ em. Thế nhưng trong nhóm này, có nhiều thuốc có thể gây hại thận (gây nhiễm độc ống thận), khi thuốc bài tiết qua đường thận dưới dạng không đổi. Các cephalosporin thế hệ 1 đường uống (cephalexin, cefalothin, cephazolin, cephadroxil) gây độc cho thận còn thế hệ 2 - 3 thì an toàn hơn. Thế nhưng ở dạng tiêm, các cephalosporin từ thế hệ thứ hai trở đi thường gây rối loạn chức năng thận nhiều hơn các thuốc thế hệ trước.
Các thuốc sulfamid: Một số sulfamid thường dùng như sulfacetamid, natri sulfamethoxazol, cotrimoxazol… Các thuốc trong nhóm này kết tủa trong ống thận gây tắc thận, nhất là khi dùng liều cao và uống ít nước. Vì vậy, khi dùng các thuốc này cần uống nhiều nước để giúp hòa tan nhanh thuốc và thải trừ dễ dàng hơn, tránh kết tủa gây sỏi thận.
Nhóm aminozid (tobramycin, streptomycin, neomycin…): Tỷ lệ gây suy thận của các thuốc trong nhóm này với tỷ lệ khoảng 10%. Suy thận có thể xuất hiện sau một liều điều trị (từ 7-10 ngày). Trường hợp người tuổi cao, người đang suy thận, xơ gan, bị mất nước…mà dùng các thuốc nhóm aminozid liều cao, kéo dài hoặc dùng với một thuốc gây suy thận khác thì mức độ nhiễm độc càng trầm trọng thêm. Thuốc gây độc nhiều nhất là neomycin nhưng hiện nay neomycin thường chỉ dùng dưới dạng phối hợp trong các dung dịch hay thuốc mỡ (nhỏ mắt, dùng ngoài). Streptomycin gây nhiễm độc nhẹ hơn và hiện chỉ dùng liều xác định trong điều trị lao. Tobramycin gây nhiễm độc trung bình, hiện hay dùng dưới dạng thuốc nhỏ mắt. Gentamycin vừa có thể gây nhiễm độc thận vừa gây nhiễm độc thính giác và có khoảng cách giữa liều điều trị và liều độc hẹp, ít được chuyển hóa, bài tiết chủ yếu qua thận dưới dạng nguyên chất. Đặc biệt, gentamycin bị lạm dụng nhiều (trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi trở lên) nên tỷ lệ gentamycin gây độc chiếm tỷ lệ cao trong nhóm.
Kháng sinh chống nấm amphotericin B: Tác dụng lên lipid của màng tế bào gây độc. Biểu hiện thường thấy là suy thận cấp, đái tháo nhạt, nhiễm toan do ống thận.
Các thuốc nhóm fluoroquinolon (ciprofloxacin, ofloxacin, levofloxacin, sparfloxacin…): Ít tiềm năng gây độc cho thận nhưng khi dùng cho người suy thận thì cũng có thể gây rối loạn chức năng thận.
Kháng sinh nhóm betalactam: Có thể gây ra bệnh ở ống thận - mô kẽ do miễn dịch - dị ứng cho các trường hợp mô thận quá mẫn cảm với các biểu hiện xuất hiện đột ngột: đái ra máu, thận to ra. Thuốc gây tác hại nhiều và nặng nhất là methicilin, hay gặp penicilin, hiếm gặp hơn là ampicilin, amoxicilin, oxacilin.
Lời khuyên cho người dùng thuốc
Khi dùng các kháng sinh kể trên, người khỏe mạnh cũng có thể có nguy cơ nhiễm độc thận; người có chức năng thận suy giảm do cao tuổi hay trẻ nhỏ, do mắc bệnh thận hay một số bệnh mạn tính kèm theo thì nguy cơ kháng sinh gây hại thận càng cao, dễ xảy ra và nặng. Vì vậy, trước khi dùng các kháng sinh này phải xem xét chức năng thận, đặc biệt là với trường hợp có nguy cơ cao (tăng huyết áp, mắc bệnh gan…). Để an toàn dùng thuốc, mọi người cần dùng thuốc theo đúng chỉ định, không được tự ý sử dụng các kháng sinh có khả năng gây hại thận. Đồng thời phải thông báo cho bác sĩ loại thuốc mình đang dùng để tránh các tương tác thuốc có thể gây hại thận khi dùng đồng thời với kháng sinh.
Nếu bạn sắp có một chuyến đi, có lẽ ngộ độc thực phẩm không nằm trong danh sách những điều bạn muốn trải nghiệm. Tuy nhiên, ước tính có khoảng 30-70% người sẽ bị " tiêu chảy khi đi du lịch ", một dấu hiệu của ngộ độc thực phẩm, trong hoặc ngay sau chuyến đi của họ. Dưới đây là một số bước bạn có thể thực hiện để giảm nguy cơ gặp rủi ro, đồng thời vẫn tận hưởng được văn hóa và ẩm thực địa phương.
Trong mùa hè nóng ẩm, trẻ nhỏ rất dễ đối mặt với tình trạng rôm sảy kèm theo các nốt mẩn đỏ gây ngứa ngáy và khó chịu trên da. Nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời, những dấu hiệu này có thể chuyển biến nặng thành viêm da, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cũng như quá trình phát triển tự nhiên của trẻ.
Mặc dù đã trải qua nhiều thập kỷ, bất chấp nhiều thông điệp truyền thông về tác hại của thuốc lá với sức khỏe, thuốc lá vẫn luôn là kẻ thù số 1 của sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là đối với những cá nhân mắc các bệnh tâm lý như trầm cảm hoặc lo âu. Đây là 2 bệnh tâm lý liên quan mật thiết với tần suất sử dụng thuốc lá do phụ thuộc vào nicotine. Hiểu rõ mối quan hệ sẽ là chìa khóa để phòng ngừa, điều trị và phục hồi sức khỏe.
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.