Các chuyên gia Mỹ nhất trí rằng, mỗi năm một em nhỏ có thể bị khoảng 10 đợt nhiễm virus, với các triệu chứng ho và cảm. Trên thị trường Mỹ hiện có tới hơn 800 loại thuốc ho và thuốc cảm dành cho trẻ em.
Bốn thành phần chính của các loại thuốc ho thuốc cảm
Chống ngạt mũi: Làm thông thoáng mũi, giúp bé dễ thở. Thuốc làm khô niêm mạc, giúp giảm phần nào hiện tượng chảy nước mũi. Tác dụng phụ: khiến trẻ kích thích, khó ngủ.
Kháng histamin: Trị chứng hắt hơi, sổ mũi. Tác dụng phụ: gây buồn ngủ.
Ức chế cơn ho: Ức chế phản xạ ho ở họng và phổi, ngăn chặn cơn ho.
Long đờm: Giúp đờm loãng hơn và dễ long ra.
Thuốc ho có an toàn cho trẻ em?
Tuy các loại thuốc ho, thuốc cảm đã được sử dụng từ hàng chục năm nay, vẫn có rất ít nghiên cứu về độ an toàn và tính hiệu quả của chúng ở trẻ em.
Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) lần đầu tiên đưa ra hướng dẫn sử dụng thuốc ho thuốc cảm ở trẻ em năm 1976. Lúc đó, liều lượng thuốc dùng cho trẻ hoàn toàn dựa vào liều dùng cho người lớn: trẻ từ 5-12 tuổi dùng ½ liều người lớn, trẻ từ 2-5 tuổi dùng ¼ liều người lớn. Tại thời điểm đó chưa có quy định về việc sử dụng thuốc ở trẻ dưới 2 tuổi.
Nghiên cứu của Trung tâm Phòng và Kiểm soát Bệnh tật của Mỹ (CDC) thực hiện năm 2007 cho thấy, trong khoảng thời gian từ 2004-2005, hơn 1.500 trẻ dưới 2 tuổi được đưa tới điều trị tại các phòng cấp cứu của Mỹ vì tác dụng phụ của thuốc ho và cảm.
Các tai biến nguy hiểm nhất bao gồm: nhịp tim nhanh, kém tỉnh táo, co giật, tử vong. Trong số các nạn nhân, cả 3 trường hợp trẻ dưới 6 tuổi tử vong vì dùng thuốc cảm năm 2005 đều có nguyên nhân sử dụng thuốc quá liều do vô ý.
Các chuyên gia cho rằng, phần lớn các tai biến nghiêm trọng thường liên quan tới việc sử dụngt huốc không đúng cách. Tuy nhiên, thống kê năm 2004 ở Mỹ cho thấy, có tới 25% trẻ được dùng thuốc đúng liều nhưng vẫn bị tai biến. Trẻ dưới 2 tuổi có tỷ lệ tai biến cao nhất.
Năm 2008, những tranh cãi xung quanh độ an toàn của thuốc cảm ở trẻ em đã khiến nhiều nhà sản xuất phải thay đổi nhãn mác và đưa ra cảnh báo trên bao bì: “Không dùng thuốc này cho trẻ dưới 4 tuổi”, “Không dùng thuốc kháng histamime như thuốc an thần hay thuốc ngủ cho trẻ”.
Năm 2009, nghiên cứu do Bệnh viện Nhi đồng BC ở Vancouver (Canada) tiến hành cho thấy, chẳng những các thuốc ho, thuốc cảm có thể gây nguy hiểm mà còn không mang lại lợi ích gì cho trẻ dưới 5 tuổi.
Bệnh nhiễm virus cần thời gian để đi hết quãng đường của mình. Không có phương thuốc gì chữa khỏi các căn bệnh này. Thuốc ho và cảm chỉ giúp làm giảm nhẹ triệu chứng. Nhiều khi tác hại do sử dụng thuốc không đúng cách còn lớn hơn nhiều so với lợi ích mà các thuốc này mang lại. Cân nhắc giữa lợi và hại, ngày càng có nhiều cha mẹ chọn cách không dùng thuốc ho thuốc cảm cho con.
Hướng dẫn sử dụng thuốc ho một cách an toàn
Đọc kỹ nhãn thuốc, đặc biệt là các thành phần của thuốc.
Không sử dụng cùng lúc 2 loại thuốc có cùng thành phần.
Chọn thuốc phù hợp với triệu chứng bệnh.
Không dùng thuốc lâu hơn quy định.
Không dùng thuốc thường xuyên hơn chỉ dẫn.
Không cho trẻ dùng thuốc của người lớn, dù có giảm liều.
Dùng thìa hoặc cốc đo chính xác hàm lượng thuốc, không được áng chừng.
Phần lớn các bệnh nhiễm virus sẽ tự khỏi sau khoảng 1 tuần. Thông thường nếu được chăm sóc đúng cách, các bé sẽ khá lên nhiều kể từ ngày thứ 5.
Cung cấp đủ nước: cho bé uống nhiều nước, nước hoa quả, bú mẹ để giữ cho cơ thể không bị mất nước, phòng ngừa hiện tượng đờm dãi bị cô đặc, gây bít tắc đường hô hấp.
Khuyến khích bé ho: ho là phản xạ bảo vệ tự nhiên của cơ thể, giúp tống đờm dãi ra ngoài. Nếu bé muốn ho, hãy đặt bé ngồi trên lòng bạn, nghiêng người bé về phía trước khoảng 30 độ và vỗ rung nhẹ ở vùng lưng.
Làm ẩm đường mũi: dùng nước muỗi sinh lý nhỏ đều đặn vào hai bên lỗ mũi, khoảng 30 phút /lần. Nếu mũi bé có nhiều dịch tiết thì cần hút sạch bằng dụng cụ hút mũi dành cho trẻ em.
Khuyến khích bé nghỉ ngơi: nếu bé sốt hoặc ho nhiều, nên giữ bé ở nhà, hạn chế họat động.
Mặc ấm cho bé và giữ nhiệt độ phòng ở mức mát mẻ, nhiệt độ cao quá sẽ không tốt vì làm khô đường hô hấp.
Làm ẩm không khí: dùng máy phun sương duy trì độ ẩm trong phòng ở mức 50-70%. Không khí mát và ẩm tạo điều kiện tối ưu cho đường thở.
Trong hành trình chinh phục vẻ đẹp toàn diện, chúng ta thường mải mê tìm kiếm những dòng mỹ phẩm đắt tiền hay những bài tập cường độ cao để có da đẹp, dáng xinh mà quên mất rằng gốc rễ của một làn da rạng rỡ và một vóc dáng thanh mảnh nằm chính ở sự cân bằng năng lượng từ bên trong.
Tiểu nhiều lần vào ban đêm là tình trạng khá phổ biến. Người mắc chứng tiểu đêm thường xuyên phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu, khiến giấc ngủ bị gián đoạn. Về lâu dài, điều này có thể gây uể oải, mệt mỏi, ảnh hưởng đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Y học thời kỳ xa xưa đã biết dựa vào các loại cây và thảo mộc đặc biệt để chữa bệnh, và chúng vẫn luôn được coi trọng trong xã hội hiện đại. Đối với y học hiện đại, y học cổ truyền đóng một vai trò quan trọng, với các hợp chất và dưỡng chất có lợi cho sức khỏe mang tính an toàn tương đối cao khi sử dụng hợp lý.
Magie là khoáng chất thiết yếu, tham gia vào hơn 300 phản ứng enzyme trong cơ thể, hỗ trợ chức năng cơ bắp, thần kinh, tim mạch và chuyển hóa năng lượng. Thời gian magie tồn tại trong cơ thể phụ thuộc vào một vài yếu tố, nhưng hầu hết các loại magie sẽ được đào thải trong vòng một hoặc hai ngày.
Giảm cân sau kỳ nghỉ Tết là mong muốn của nhiều người, song thực tế không ít trường hợp dù tập luyện trở lại với cường độ cao, cân nặng vẫn ít thay đổi, thậm chí tăng thêm. Hiện tượng này khá phổ biến, chủ yếu liên quan đến rối loạn chuyển hóa và sai lầm trong ăn uống.
Vào mùa xuân, hiện tượng thời tiết nồm ẩm với độ ẩm không khí tăng cao gây ra nhiều sự khó chịu và tác động tiêu cực đến sức khỏe con người. Sự kết hợp giữa mưa phùn dai dẳng và bề mặt đồ vật đọng nước tạo điều kiện cho các mầm bệnh phát triển mạnh mẽ. Để giúp cộng đồng chủ động phòng ngừa, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về cơ chế gây bệnh và các biện pháp bảo vệ sức khỏe toàn diện trong giai đoạn giao mùa nhạy cảm này.
Uống đủ nước có thể hỗ trợ giảm cân thông qua tăng nhẹ chuyển hóa, giảm cảm giác đói và thay thế đồ uống nhiều calo…
Ai cũng biết, phần lớn vi khuẩn chính là kẻ thù của con người. Vi khuẩn gần như tồn tại ở mọi nơi, mọi cơ quan trên cơ thể, chỉ cần có điều kiện thích hợp chúng sẽ có thể gây bệnh cho con người. Để tiêu diệt được vi khuẩn, loài người đã tạo ra kháng sinh.