Con ra đời luôn là niềm hạnh phúc của cha mẹ. Khe hở môi - vòm miệng là dị tật hoàn toàn có thể điều trị được mà không để lại di chứng gì nếu cha mẹ kiên trì và tuân thủ liệu trình điều trị.
Quá trình chăm sóc và điều trị cần bắt đầu từ khi trẻ ra đời và cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa bao gồm: nhi khoa, dinh dưỡng, tai mũi họng, răng hàm mặt, chuyên gia ngôn ngữ, chuyên gia tâm lý và quan trọng nhất là sự kiên nhẫn của cha mẹ và người thân.
1. Thời kỳ sơ sinh
Vấn đề cho bú:
Trước khi phẫu thuật vấn đề khó khăn nhất của bà mẹ là cho con bú. Hầu hết các trẻ khe hở môi vòm miệng đều không bú mẹ được và cũng không bú được bằng bình sữa thông thường. Do đó trẻ cần bình sữa chuyên dụng. Sữa ăn có thể là sữa mẹ vắt ra hoặc sữa công thức.
Các mẹ cần lưu ý là trẻ sẽ mất nhiều thời gian hơn và mất sức hơn để đạt được cùng một lượng sữa so với trẻ bình thường. Số lần mẹ cho bé bú cần nhiều hơn, thời gian cho một lần không quá dài (nên dưới 15 phút) để tránh làm bé kiệt sức.
Chỉnh hình trước phẫu thuật:
Bé cần được bác sĩ răng hàm mặt điều trị chỉnh hình trước phẫu thuật trong các trường hợp: Khe hở môi, vòm miệng toàn bộ rộng. Mấu tiền hàm nhô ra trước( với khe hở môi vòm 2 bên). Cánh mũi, trụ mũi xẹp, biến dạng nhiều. Bé bú được ít và hay sặc trớ. Lưỡi của trẻ luôn đưa vào trong khe hở
Bác sĩ sẽ làm cho bé một khí cụ chuyên biệt vừa khít với miệng và được cố định nhờ sự ôm khít với vòm miệng cứng, ngách tiền đình và các băng dính dán 2 bên má. Khí cụ này có vai trò: Giúp bé bú mút dễ dàng do tạo áp lực âm trong khoang miệng. Khí cụ ngăn sự thông thương giữa khoang mũi và khoang miệng nên giảm sự sặc sữa. Khí cụ giúp thu hẹp độ rộng của khe hở môi, khe hở cung hàm, khe hở vòm từ 20- 35%. Chỉnh hình nâng cao , làm tròn cánh mũi, dựng thẳng trụ mũi. Đẩy khối tiền hàm vào trong ( với khe hở môi vòm 2 bên). Ngăn lưỡi không chui vào khe hở, không làm khe hở rộng thêm. Kéo dài phần môi bị ngắn, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phẫu thuật.
Việc điều trị chỉnh hình có thể bắt đầu từ 2 ngày tuổi nếu trẻ khỏe, giúp cho bé được nuôi dưỡng tốt và chuẩn bị tiền đề tốt nhất cho phẫu thuật.
Năm ngày sau phẫu thuật tạo hình môi
Sau khi ra đời và tình trạng cho phép vận chuyển, hãy bế con bạn đến các bác sĩ nhi khoa và răng hàm mặt để được loại trừ các bệnh toàn thân, tư vấn chế độ dinh dưỡng, cách cho ăn và điều trị chỉnh hình trước phẫu thuật.
Bé ăn bao nhiêu là đủ?
Với các trẻ bình thường, các mẹ luôn yên tâm với 1 câu quen thuộc “bú mẹ theo nhu cầu“ nhưng với trẻ khe hở môi - vòm miệng, phải cho bé ăn bao nhiêu để đảm bảo nhu cầu năng lượng luôn là điều băn khoăn trong các gia đình.
Trong 1 tuần đầu, bạn hãy theo bảng sau:
Trên một tuần tuổi: hãy gặp các bác sĩ dinh dưỡng nhi để tư vấn cho con bạn số lượng sữa cần đạt theo nhu cầu năng lượng.
Ngoài vấn đề dinh dưỡng, bố mẹ cần đảm bảo chăm sóc trẻ trong một điều kiện tốt nhất như: Giữ vệ sinh: vệ sinh da-mắt-rốn. Vệ sinh bình sữa và dụng cụ hút sữa; Giữ ấm; Tiêm phòng; Tránh các môi trường lây nhiễm
2. Thời kì phẫu thuật khe hở môi
Do vấn đề tâm lý, gia đình muốn phẫu thuật cho trẻ ngay sau sinh nhưng hiện nay tất cả các trung tâm ở các nước phát triển trên toàn thế giới đều khuyến cáo nên phẫu thuật môi khi trẻ đạt 3-4 tháng và cân nặng trên 6 kg.
Lý do không nên phẫu thuật sớm:
- Trẻ sơ sinh dễ bị stress do môi trường mới lạ, cần thời gian để trẻ thích nghi
- Thông qua việc vận động môi như bú sữa, lượng cơ vòng môi sẽ gia tăng và phát triển đầy đủ giúp cho việc phẫu thuật được dễ dàng.
- Phẫu thuật muộn sẽ an toàn cho gây mê và theo dõi sau mổ
- Có thời gian điều trị chỉnh hình trước phẫu thuật, giúp phục hồi sự biến dạng của mũi và xương hàm trên
- Vì tính an toàn của phẫu thuật, cha mẹ hãy chờ đợi đến giai đoạn 3-4 tháng.
Chăm sóc sau phẫu thuật:
- Rửa sạch vết mổ hàng ngày
- Tránh mọi va đập và tránh tay bé cào xước lên vết mổ
- Nếu có viêm mũi, chảy mũi áu mổ: cần điều trị ngay không để nước mũi làm nhiễm trùng vết mổ
- Ăn sữa đút thìa. Sau 2 tuần có thể bú bình chuyên dụng như trước mổ
- Hạn chế đi nắng trong năm đầu.
3. Thời kì phẫu thuật khe hở vòm miệng
Tiêu chuẩn an toàn: Trước thời kỳ tập nói. Thể trọng là 10kg. Tuổi bé là 18-24 tháng. Khe hở vòm mềm có thể phẫu thuật lúc 12 tháng.
Mổ sớm có lợi cho trẻ về mặt ngôn ngữ nhưng mổ muộn có lợi về mặt phát triển xương hàm. Phẫu thuật ở thời kỳ 18-24 tháng vẫn gây ức chế sự phát triển của xương hàm trên nên sau mổ cần thăm khám định kì để có điều trị thích hợp.
Chăm sóc sau mổ: Ăn đồ mềm (sữa, cháo xay) hoàn toàn trong 2 tuần đầu sau mổ. Sau khi ăn cho bé uống nước đun sôi để nguội. nếu bé biết xúc miệng, hãy khuyến khích xúc miệng. Đánh giá sự phát triển ngôn ngữ và xương hàm trên hàm năm sau mổ. Huấn luyện cho trẻ thổi ống khi trẻ 2 tuổi để tăng cường chức năng cơ căng màn hầu, cơ hàm hầu.
4. Thời kì điều trị ngôn ngữ
Đa số các trẻ khe hở môi vòm miệng đều có rối loạn ngôn ngữ: nói ngọng, giọng mũi hở… Do đó cần được khám và điều trị ngôn ngữ. Thời điểm bắt đầu tùy vào sự phát triển của từng trẻ nhưng thường khoảng 4 tuổi.
5. Thời kỳ tiền học đường (2-6 tuổi)
Đối với các gia đình có con bị dị tật này, kết thúc phẫu thuật bố mẹ coi như kết thúc điều trị nhưng hãy lưu ý răng thời kỳ này bé sẽ gặp phải các vấn đề như: Sâu răng. Cung răng lệch lạc, méo mó. Lép tầng mặt giữa. Bất thường ngôn ngữ.Rối loạn tâm lý do bị bạn trêu chọc.
Các vấn đề cần điều trị trong thời kì này gồm:
Chăm sóc răng miệng: mục đích nhằm ăn nhai tốt. Hỗ trợ phát triển ngôn ngữ. Các răng nanh và răng hàm sữa là phương tiện neo chặn để gắn khí cụ chỉnh hình xương hàm trên và cung răng.
Điều trị phát âm: Luyện thổi ống. Cần sự thăm khám và hướng dẫn của chuyên gia ngôn ngữ.
Điều trị viêm VA, viêm tai giữa
Điều trị chỉnh hình răng và xương hàm: Thường bắt đầu từ 6 tuổi với 3 nhiệm vụ: Nong mở xương hàm trên theo hình chữ V. Kéo xương hàm trên ra trước, ngăn chặn thiểu sản. Làm thẳng hàng răng vĩnh viễn nếu có.
- Chăm sóc răng
- Tiếp tục chỉnh hình cung răng và xương hàm
- Ghép xương ổ răng( 8-12 tuổi)
- Điều trị tâm lý
7. Thời kỳ trên 18 tuổi
- Phẫu thuật chỉnh sửa cách mũi
- Sửa sẹo xấu môi nếu có
- Phẫu thuật cắt đẩy xương hai hàm (với các trường hợp không được chỉnh hình cung răng và xương hàm giai đoạn trên)
- Phẫu thuật giãn xương hàm nếu khe hở cung hàm quá lớn
Khe hở môi vòm là một bệnh phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước Châu Á (dân gian hay gọi là sứt môi - hở hàm ếch). Căn bệnh này có tần suất mắc khá cao: khoảng 500-600 trẻ đẻ ra có một trẻ mắc. Việc điều trị hiện nay có rất nhiều tiến bộ. Nếu bé sinh ra được tư vấn, điều trị đúng đắn, đúng thời điểm thì sẽ không để lại bất cứ một di chứng gì.
Về nguyên nhân gây bệnh: Bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra như di truyền, môi trường. Mẹ dùng thuốc, nhiễm hóa chất , nhiễm trùng trong thời kỳ mang thai…
Về thời điểm mắc bệnh: Do rối loạn quá trình giáp dính của các nụ mặt, nụ mũi, nụ hàm trên…mà tạo ra khe hở môi từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 8 và tạo ra khe hở vòm miệng từ tuần thứ 9 đến tuần thứ 10 của thai kì. Trên siêu âm có thể phát hiện ra khe hở môi từ tuần thứ 20.
Trong bối cảnh hiện đại, những thông điệp về chăm sóc sức khỏe tim thần thường gắn liền với những thay đổi mang tính hệ thống như: cai nghiện mạng xã hội hoàn toàn, thiết lập chế độ tập luyện khắc nghiệt hay thay đổi toàn bộ nhịp sinh học. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chính áp lực từ tư duy "tất cả hoặc không có gì" này lại trở thành rào cản tâm lý, khiến chúng ta dễ cảm thấy quá tải.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.