Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Các thay đổi về nội tiết và tâm sinh lý ở phụ nữ mang thai

Khi mang thai, cơ thể phụ nữ có sự thay đổi không chỉ về hình thể mà tâm sinh lý cũng có nhiều biến đổi trong thời kỳ này…

Thay đổi nội tiết
Ở phụ nữ khi có thai, các tuyến nội tiết đều có sự thay đổi: tuyến yên (khi có thai to lên khoảng 35%, các hormon của tuyến yên ít thay đổi, chỉ có prolactin tăng gấp 10 lần so với khi chưa có thai), tuyến giáp (to lên do tăng sinh mạch máu và tăng sản tuyến làm cho chuyển hoá cơ bản tăng)… đặc biệt xuất hiện thêm hai tuyến nội tiết mới (rau thai, hoàng thể thai nghén) và có sự thay đổi về cơ bản hai loại nội tiết tố đó là HCG và các steroid.
HCG (Human Chorionique Gonadotropin), là hormon sinh dục hướng rau thai, đặc hiệu cho thai nghén, được chế tiết rất sớm. Hai tuần lễ sau khi thụ thai đã phát hiện được sự có mặt của HCG trong nước tiểu và huyết thanh của phụ nữ có thai, nên người ta ứng dụng tìm HCG để chẩn đoán thai nghén sớm. Tác dụng của HCG là duy trì, nuôi dưỡng hoàng thể kinh nguyệt trở thành hoàng thể thai nghén trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén. Bên cạnh đó, các hormon steroid được tăng tiết rất nhiều.Hai hormon quan trọng nhất là estrogen và progesteron. Nồng độ 2 nội tiết này cùng tăng dần trong quá trình thai nghén đạt mức cao nhất vào tháng cuối của quá trình thai nghén.
Ốm nghén thường xuất hiện trong 3 tháng đầu của thai kỳ.
 
Chính sự tăng sinh của các tuyến nội tiết và sự xuất hiện 2 tuyến nội tiết mới đã làm cho toàn cơ thể phụ nữ có nhiều thay đổi về giải phẫu, hình thể và tâm sinh lý… để thích nghi với tình trạng thai nghén (hay nói cách khác là để đáp ứng với những kích thích sinh lý do thai và phần phụ của thai gây ra).
Sự thay đổi các hormon và nội tiết tố gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh, trong đó các chất tác động đến tâm trạng (như serotonin) gây xáo trộn trong tâm sinh lý ở phụ nữ mang thai. Vì vậy, rất nhiều mẹ bầu cảm thấy mệt mỏi, căng thẳng, lo lắng, buồn nôn, thèm ăn vô cớ, khó chịu trong người, dễ quên, cáu gắt…
 
Các biểu hiện...
 
Ốm nghén: trong 3 tháng đầu của thai kỳ, nồng độ HCG tăng mạnh, giúp giữ cho phôi được “bám rễ” chắc vào lớp niêm mạc tử cung. Các hormone progesterone và estrogen cũng gia tăng, giúp duy trì thai nhi và xây dựng các mạch máu để nuôi dưỡng bào thai. Các hormon này có lợi cho thai nhi, nhưng lại gây ra nhiều khó chịu cho người mẹ gây nên tình trạng “ốm nghén” như mệt mỏi, buồn nôn, nôn (có trường hợp tình trạng này kéo dài cho tới khi sinh em bé), lo lắng, stress... Chính sự “ốm nghén” này cũng chi phối nhiều đến cách cư xử của người mẹ trong các mối quan hệ, vì vậy họ rất cần được người thân cảm thông và chia sẻ.
 
Dễ xúc động, nổi cáu: Khi mang thai, trạng thái tinh thần của phụ nữ rất dễ bị thay đổi và nhiều khi còn căng thẳng hơn so với bình thường. Mẹ bầu rất dễ xúc động dù đó chỉ là những chuyện nhỏ. Đây là dấu hiệu khá rõ ràng cho biết phụ nữ đang có sự thay đổi về trạng thái tâm lý và dấu hiệu của mang thai.
 
Một biểu hiện khác của việc thay đổi hormon khi có dấu hiện mang thai của các chị em đó là có thể “phát cáu” mọi lúc mọi nơi. Thậm chí có những việc rất bình thường nhưng đối với bà bầu thì rất dễ nổi nóng.
 
Nói chung, phụ nữ có thai dễ có các thay đổi về tâm lý, cảm xúc hay cáu gắt, dễ thay đổi tính tình, trí nhớ giảm... Các dấu hiệu trên người ta nghĩ nhiều đến cơ chế thần kinh và nội tiết.
 
Đi tiểu nhiều: Ngay khi biết mình có thai, bạn sẽ phải đối mặt với hàng loạt thay đổi, một trong số đó là đi tiểu nhiều lần. Sau khi tiểu xong vẫn còn cảm giác buồn tiểu. Đây là hiện tượng hoàn toàn bình thường, nguyên nhân là do trong những tháng đầu và tháng cuối có sự chèn ép của tử cung vào bàng quang gây nên hiện tượng đái rắt, đái són khiến bạn phải đi tiểu liên tục. Hơn nữa, kích thước của thận hơi tăng lên khi có thai, tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng lên 50%. Chức năng bài tiết của thận thay đổi, dễ bị mất các chất dinh dưỡng và các vitamin tan trong nước. Niệu quản cũng dài ra, cong queo và giảm trương lực, do đó khả năng dẫn lưu nước tiểu kém. Hậu quả là dễ gây nhiễm khuẩn đường tiết niệu ngược dòng.
 
Mất ngủ: Trong những tháng cuối thai kỳ, trọng lượng tăng làm mẹ bầu không thoải mái. Mẹ bầu hay bị đau nhức, mất ngủ. Các hormon gây rối loạn tâm trạng cũng tăng cao. Càng gần ngày sinh, bạn càng có tâm trạng sợ cơn chuyển dạ.
 
Tăng cân: Tăng cân đồng nghĩa với việc bé nhận được các chất dinh dưỡng để phát triển ổn định và khỏe mạnh. Đây là hiện tượng hoàn toàn tự nhiên và bình thường. Trong giai đoạn này, bạn cần ăn uống lành mạnh và cân bằng. Tăng cân đúng chuẩn giúp bạn có một thai kỳ an toàn với ít biến chứng. Còn khi tăng cân một cách quá đà thì thai phụ dễ gặp các vấn đề về đau lưng, chuột rút, đái tháo đường, tăng huyết áp...
 
Đau ngực: Đau ngực là một trong những dấu hiệu sớm của thai kỳ. Nguyên nhân là do sự thay đổi nội tiết tố trong thai kỳ gây tăng lưu lượng máu và những thay đổi trong các mô ở tuyến vú. Vú căng to do tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển.Núm vú to lên, mầu xẫm lại.Quầng vú sẫm mầu và rộng ra, các hạt Montgomery nổi rõ.Bà bầu sẽ có cảm giác căng tức và đau.
 
Các vấn đề về tiêu hóa: Trong 3 tháng đầu thai phụ thường bị rối loạn tiêu hoá do tình trạng nghén gây ra. Từ tháng thứ 4 trở đi triệu chứng nghén thường hết đi thai phụ ăn uống bình thường và có thể tăng hơn so với trước khi có thai. Tuy nhiên, giai đoạn cuối của thai nghén do tử cung to chèn vào dạ dầy, ruột, làm giảm nhu động ruột... dẫn đến thai phụ thường bị táo bón, ợ nóng, hội chứng trào ngược dạ dày thực quản.
 
Một số thay đổi ở da
 
Rạn da: Da trên cơ thể có khả năng co dãn và đàn hồi thông qua các sợi collagen và elastin. Các sợi này giúp cho da có thể căng ra và co lại như ý muốn và sẽ thoái hóa theo thời gian. Khi mang thai, không chỉ vùng bụng mà ngực, đùi và mông của chị em thường tăng quá nhanh về kích thước khiến da không thể dãn ra kịp, mặt khác các sợi đàn hồi collagen và elastin không được chuẩn bị để thích ứng kịp thời với kích thước tăng nên xảy ra tình trạng đứt gãy.
 
Các vết đứt gãy liên tiếp sẽ tạo thành các vết rạn nứt, ban đầu sẽ có màu đỏ nâu do các mạch máu dưới da bị tổn thương, sau khi sinh và cơ thể hồi phục, các vết rạn sẽ chuyển thành sẹo màu trắng, đến lúc này thì việc điều trị sẽ trở nên vô cùng khó khăn vì các vết rạn đã trở thành sẹo vĩnh viễn. Rạn da không chỉ làm mất thẩm mỹ mà chúng còn làm cho làn da trở nên mỏng, yếu và nhão.
 
Để phòng ngừa và điều trị rạn da, chị em nên chăm chỉ giữ ẩm cho da và bôi các loại kem cũng như mặt nạ tự nhiên an toàn cho da. Rạn da rất khó để ngăn ngừa nhưng sau sinh, hiện tượng này cũng sẽ dần dần biến mất.
Rốn lồi lên và đường chỉ sẫm màu xuất hiện giữa bụng....

Ngứa: Đây là hiện tượng nhiều chị em mang bầu gặp phải. Ngứa khi mang thai có nguyên nhân điển hình như: sự thay đổi về sinh lý, có sự căng giãn da. Các vị trí hay gặp là vùng bụng, ngực, cánh tay, mông, bàn chân.
 
Rốn lồi lên: Khi thai nhi phát triển, vòng bụng của thai phụ sẽ lớn dần lên điều đó kéo theo việc rốn của các mẹ nhô lên và lồi ra bằng với mặt bụng. Sau khi sinh, rốn của bạn sẽ trở lại bình thường nên không có gì phải lo lắng.
 
Đường chỉ sậm màu xuất hiện giữa bụng: Ở phụ nữ mang thai thường xuất hiện một đường kẻ chỉ dọc sẫm màu giữa bụng. Đường chỉ dọc bụng này được gọi là đường Nigra. Dưới góc độ y học, đường Nigra do các sợi cơ bụng tụ thành, ngoài ra không có chức năng gì đặc biệt. Khi có bầu, estrogen và androgen trở nên mất cân bằng. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến những sắc tố da bị thay đổi khiến đường Nigra trở nên sẫm hơn. 90% phụ nữ mang thai sẽ cảm nhận được sự hiện diện của đường Nigra này. Tuy nhiên, nó sẽ mờ nhạt lại như cũ sau khi hết thời gian mang bầu và sau đó hoàn toàn mất hẳn.
 
BS. Nguyễn Bích Ngọc - Theo SKĐS
Bình luận
Tin mới
  • 24/09/2026

    Mẹ sau sinh có nên ăn kiêng để giảm cân? Góc nhìn và giải pháp khoa học

    Sở hữu một vóc dáng thon gọn sau kỳ sinh nở là khát khao chính đáng của mọi phụ nữ, nhưng áp lực phải "về dáng" thần tốc bằng các chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt lại vô tình đẩy nhiều bà mẹ vào những hệ lụy sức khỏe trầm trọng.

  • 23/09/2026

    Gen quyết định tính cách con người nhiều hơn những gì chúng ta nghĩ

    Một nghiên cứu quy mô lớn mới đây đã phát hiện ra tính cách của con người có sự liên hệ chặt chẽ với hàng ngàn biến thể gen di truyền. Điều kinh ngạc hơn là những đặc điểm này không chỉ định hình con người mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, tuổi thọ và cả thu nhập của mỗi người.

  • 23/09/2026

    Lợi ích sức khỏe của Cà phê và Trà dưới góc nhìn khoa học

    Bên cạnh nước lọc, cà phê và trà là hai thức uống được yêu thích nhất trên toàn thế giới. Cả hai đều chứa những hợp chất có thể hỗ trợ đắc lực cho sức khỏe.

  • 23/09/2026

    Hội nghị khoa học "Nghiên cứu và ứng dụng trong y học"

    Tại Hội nghị khoa học năm 2026 với chủ đề “Nghiên cứu và ứng dụng trong y học” do Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức, các chuyên gia đã cập nhật nhiều nghiên cứu, tiến bộ mới trong dự phòng và điều trị bệnh.

  • 22/09/2026

    Nhịn ăn gián đoạn trong phòng các bệnh mạn tính và rối loạn chuyển hóa

    Nhịn ăn là phương pháp được áp dụng từ lâu đời, dưới nhiều hình thức khác nhau… chúng còn phổ biến trong một sô tôn giáo, hoặc được áp dụng trong một số biện pháp phòng và điều trị bệnh mạn tính, rối loạn chuyển hóa

  • 22/09/2026

    Có nên bổ sung biotin để kích thích mọc tóc?

    Biotin được nhiều người truyền tai như một giải pháp giúp tóc mọc dày, chắc khỏe hơn. Vậy nên dùng chất dinh dưỡng này như thế nào?

  • 22/09/2026

    Trung thu hiện đại: Giữ trọn truyền thống, sống khỏe mỗi ngày

    Tết Trung thu là dịp lễ thiêng liêng của tình thân và sự sum vầy. Tuy nhiên, trước những thay đổi của cuộc sống hiện đại, việc làm thế nào để vừa gìn giữ nét đẹp truyền thống, vừa đảm bảo chế độ ăn uống khoa học, lành mạnh cho cả nhà đang là mối quan tâm của nhiều gia đình. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin và đưa ra những lời khuyên hữu ích ngay sau đây.

  • 21/09/2026

    WHO: khó khăn trong triển khai mục tiêu bao phủ tiêm chủng hiện nay trên toàn cầu

    Tiêm chủng là một trong những can thiệp y tế công cộng thành công và có hiệu quả nhất hiện nay, giúp cứu sống hàng triệu người mỗi năm. Tuy nhiên, tỉ lệ bao phủ vaccine toàn cầu đang gặp nhiều thách thức. Việc đảm bảo mọi trẻ em đều được tiêm chủng đầy đủ không chỉ bảo vệ sức khỏe cá nhân mà còn xây dựng một cộng đồng an toàn, đẩy lùi dịch bệnh.

Xem thêm