Bệnh mắt hột là gì?
Bệnh mắt hột là tình trạng viêm mãn tính của lớp mô bên ngoài của mắt và mí mắt (kết mạc). Tình trạng này xảy ra do nhiễm một loại vi sinh vật là Chlamydia trachomatis.
Qua một quá trình nhiều năm từ những năm đầu của thời thơ ấu, sự viêm nhiễm – vốn là đáp ứng của cơ thể với nhiễm trùng, làm cho kết mạc hóa sẹo và thô ráp. Tình trạng này cản trở chức năng bình thường của kết mạc là bôi trơn, bảo vệ và dinh dưỡng cho lớp mô trong suốt ở mặt trước của mắt, tức là giác mạc. Giác mạc cũng có thể bị ảnh hưởng trực tiếp vào quá trình viêm nhiễm này.
Vì vậy, giác mạc cũng dần tự hóa sẹo, bị mờ đi, không đồng nhất và phát triển những mạch máu bất thường, làm giảm thị lực.
Giác mạc cũng trở nên nhạy cảm hơn với các loại nhiễm trùng khác và giảm khả năng ứng phó với những tổn thương từ môi trường bên ngoài và chấn thương. Toàn bộ quá trình này thường kéo dài nhiều năm.
Ở giai đoạn muộn, mí mắt có thể hóa sẹo nhiều làm cho chúng áp sát vào phía trong và vì vậy, các lông mi sẽ cọ xát lên giác mạc (chứng lông quặm). Quá trình này vừa gây đau vừa gây tổn thương giác mạc.
Trong trường hợp này, tổn thương giác mạc sẽ xấu đi nhanh chóng. Nếu không điều trị, sẹo hóa và sự mờ đục giác mạc sẽ nhanh chóng dẫn đến mù lòa đối với mắt đó. Thường thì cả hai mắt cùng bị ảnh hưởng, vì vậy, bệnh nhân sẽ bị mù.
Mù do bệnh mắt hột hầu như không thể chữa được và cuối cùng, mắt thường bị phá hủy bởi nhiễm trùng thứ phát.
Sẹo kết mạc cấp độ nặng trung bình gây ra bởi bệnh mắt hột. - Ảnh: FHF Sydney
Những ai bị bệnh mắt hột?
Bệnh mắt hột là căn bệnh của đói nghèo.
Bệnh này thường xảy ra ở những cộng đồng nghèo, đông dân cư, nơi mà những nhu cầu cơ bản cho sức khỏe – nước sạch, nơi ngủ riêng biệt, phù hợp, và một hệ thống vệ sinh tốt – còn đang thiếu thốn. Ruồi, khói, bụi và sự thiếu thốn những điều kiện vệ sinh cá nhân nói chung là những đặc trưng của cộng đồng bị bệnh mắt hột. Những cộng đồng này được gọi là có bệnh mắt hột dịch tễ.
Nhiễm trùng tiến triển hoặc tái nhiễm dường như làm bệnh kéo dài. Hầu hết các trường hợp nhiễm trùng chủ động xuất hiện ở trẻ nhỏ khoảng 2-3 tuổi. Hậu quả của nhiễm trùng chủ động này, với sự tạo sẹo, thường kéo dài và xấu đi qua nhiều năm.
Phụ nữ thường bị mắc bệnh mắt hột hơn và bệnh thường nặng hơn so với nam giới. Nguyên nhân là do phụ nữ thường là người chăm sóc trẻ nhỏ.
Yếu tố nào gây mù lòa do bệnh mắt hột?
Úc là quốc gia phát triển duy nhất còn bệnh mắt hột hoạt động và phần lớn tập trung ở cộng đồng người bản địa. Ảnh: Sasha Woolley
Bệnh mắt hột là một trong những nguyên nhân chính gây mù lòa trên thế giới hiện nay.
Có khoảng 84 triệu người trên toàn thế giới bị ảnh hưởng bởi bệnh mắt hột theo cách nào đó – khoảng 8 triệu người trong số họ bị mù hoặc khiếm thị.
Bệnh mắt hột gây mù lòa xảy ra chủ yếu ở những khu vực nghèo khó của châu Phi, những vùng nghèo của Trung Đông, Myanmar và Đông Dương. Có những ổ bệnh mắt hột gây mù lòa trong cộng đồng ở nhiều nơi trên thế giới.
Một số cộng đồng người bản địa ở những nơi xa xôi hẻo lánh của Úc vẫn bị bệnh mắt hột gây mù lòa như một hậu quả của điều kiện sống nghèo nàn.
Úc là quốc gia phát triển duy nhất còn bệnh mắt hột hoạt động. Bệnh mắt hột giảm dần và biến mất một khi cộng đồng vươn lên thoát khỏi đói nghèo.
Bệnh mắt hột có chữa khỏi được không?
Bệnh mắt hột có thể được chữa khỏi trong những giai đoạn sớm nhưng việc điều trị sẽ dần trở nên phức tạp, khó khăn và không thành công ở những giai đoạn nặng hơn của bệnh.
Đối với những cộng đồng có dịch bệnh mắt hột, chiến lược SAFE (an toàn) được khuyến cáo thực hiện bởi Tổ chức Y tế Thế giới. Chiến lược điều trị này bao gồm:
S (surgery) – phẫu thuật chỉnh sửa vị trí quay vào bên trong của các lông mi để tránh tạo sẹo cho mi mắt
A (antibiotics) – thuốc kháng sinh được sử dụng trong phạm vi cộng đồng để giảm nhạy cảm của vòng xoắn nhiễm trùng và tái nhiễm trùng
F (face-washing) – rửa mặt để loại bỏ các chất bẩn và các chất tiết nhầy tích tụ
E (environmental improvements) – cải thiện môi trường sống, cho phép thiết lập một hệ thống vệ sinh tốt, tầm soát ruồi, cung cấp nước sạch và dinh dưỡng tốt
Đối với những cá nhân bị bệnh mắt hột, việc điều trị bao gồm thuốc kháng sinh dạng viên hoặc xi-rô trong giai đoạn nhiễm chủ động hoặc còn thơ ấu, phẫu thuật trong trường hợp có sẹo mi mắt, thuốc kháng sinh nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt khi nhiễm trùng thứ phát và có thể ghép giác mạc trong những trường hợp quá muộn, không còn hy vọng.
Ghép giác mạc hiếm khi được sử dụng cho bệnh nhân bị bệnh mắt hột gây mù và ghép giác mạc cũng ít thành công.
Bệnh mắt hột có phòng tránh được không?
Chiến lược SAFE trên đây hướng đến cả việc điều trị và phòng ngừa bệnh mắt hột. Điểm cốt yếu của việc phòng ngừa là giúp cộng đồng vươn lên thoát khỏi đói nghèo.
Bệnh mắt hột luôn biến mất ở những cộng đồng vượt qua được nghèo đói, vươn đến một mức độ có thể chấp nhận được. Điều này dường như chủ yếu dựa vào việc phá vỡ vòng xoắn mãnh liệt của nhiễm trùng và tái nhiễm, xảy ra ở những cộng đồng nghèo khổ.
Khi cộng đồng vẫn còn nghèo khó, các dữ kiện về bệnh cần được kết hợp và sử dụng để lập kế hoạch cho cộng đồng nào cần được điều trị với thuốc kháng sinh và những ai sẽ nhận được thuốc.
Những trường hợp bị sẹo mi mắt cần được xác định để được phẫu thuật chỉnh sửa sớm, tránh để sẹo giác mạc xấu đi.
Nếu bệnh mắt hột bắt đầu bị loại ra khỏi cộng đồng, những bệnh nhân đã bị sẹo trong những thời gian trước đó vẫn cần được giám sát để tránh tạo sẹo giác mạc.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.