Bệnh lây truyền từ người sang người do nhiễm phải vi rút bại liệt chủ yếu có trong nguồn nước, thực phẩm ô nhiễm từ phân của người bệnh hoặc người lành mang vi rút bại liệt. Đây là một trong những bệnh truyền nhiễm đã có vắc xin phòng bệnh.
Bệnh bại liệt đã có từ rất lâu trong lịch sử loài người. Chỉ tính từ đầu thế kỷ 20, bệnh dịch đã xảy ra ở hầu hết các châu lục: Tại Châu Âu từ Na Uy, Thụy Điển vào năm 1905 và số bệnh nhân tăng mạnh vào các thập niên 1950-1955. Ở Mỹ riêng năm 1952 có 21.269 trường hợp bại liệt được ghi nhận. Từ 1955-1960 khi có vắc xin bất hoạt và vắc xin sống giảm độc lực thì tỷ lệ mắc và chết đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, ở các nước đang và kém phát triển bại liệt vẫn còn là thách thức lớn tới sức khoẻ loài người đặc biệt là gây tử vong ở trẻ em hoặc để lại di chứng liệt ở chi, không hồi phục làm bệnh nhân khó vận động hoặc mất vận động dẫn tới tàn tật suốt đời tạo nên gánh nặng rất lớn cho gia đình và xã hội.
Tại Trung Cận Đông năm 1988 có 2.342 trường hợp; 1988 vẫn còn 225 ca bại liệt. Tại Châu Phi năm 1988 có 4.564 ca mắc, đến 2002 vẫn còn 214 ca mắc. Tại Châu Á: Ấn Độ năm 2003 ghi nhận có 1.600 ca bại liệt. Hiện nay vi rút bại liệt hoang dại vẫn tiếp tục lưu hành ở một số nước khu vực Trung Đông, Nam Á và Châu Phi như Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nigeria, Cameroon... và kể cả một số nước đã thanh toán bại liệt cũng đã ghi nhận có trường hợp mắc ca bệnh đơn lẻ do vi rút bại liệt hoang dại xâm nhập. Chính vì vậy nguy cơ bệnh bại liệt quay trở lại và bùng phát thành dịch nếu như không triển khai tốt công tác tiêm chủng là rất lớn.
Tại Việt Nam, những năm trước khi có vắc xin đã xảy ra các vụ dịch bại liệt qui mô lớn vào năm 1957-1959, tỷ lệ mắc bệnh bại liệt năm 1959 là 126,4/100.000 dân. Từ năm 1962 khi Việt Nam tự chế tạo thành công vắc xin bại liệt sống giảm độc lực Sabin (OPV: Oral Polio Vaccine) bằng công nghệ nuôi cấy trên tế bào thận khỉ tiên phát do các chuyên gia của Liên Xô giúp đỡ, hỗ trợ thì tỷ lệ mắc, tử vong đã giảm đáng kể và không có các vụ dịch xảy ra.
Năm 1997, dây chuyền công nghệ sản xuất vắc xin OPV trên được tổ chức JICA của Nhật Bản hỗ trợ máy móc, thiết bị tiên tiến và cập nhật các kỹ thuật mới để mở rộng, nâng cấp công suất lên tới 40 triệu liều/năm. Nhờ việc triển khai vắc xin bại liệt trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng trong đó trên 95% trẻ em được uống vắc xin bại liệt, Việt Nam đã được Tổ chức Y tế thế giới công nhận thanh toán bệnh bại liệt trên toàn quốc vào năm 2000. Nghĩa là Việt Nam đã không còn một bệnh nhân bại liệt nào do vi rút bại liệt hoang dại gây nên.
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, việc thanh toán bệnh bại liệt đã giúp chính phủ của các quốc gia tiết kiệm được 1,5 tỷ USD mỗi năm cho chi phí điều trị và phục hồi chức năng các di chứng do bệnh bại liệt gây ra.
Gần 15 năm qua, Việt Nam vẫn tiếp tục bảo vệ được thành quả thanh toán bại liệt thông qua giám sát tốt các trường hợp mắc liệt mềm cấp (LMC) và duy trì được tỷ lệ uống vắc xin OPV đủ 3 liều trong tiêm chủng thường xuyên trên 95% ở quy mô toàn quốc. Đồng thời để đảm bảo duy trì được tỷ lệ miễn dịch cao trong cộng đồng, hàng năm Việt Nam đã chủ động rà soát vùng nguy cơ và tổ chức uống bổ sung vắc xin OPV cho trẻ dưới 5 tuổi vùng nguy cơ cao.
Mặc dù việc sử dụng vắc xin vắc xin bại liệt 3 týp (týp 1, týp 2, týp 3 - tOPV) tại Việt Nam đã đem lại thành tựu hết sức to lớn và quan trọng như trên. Tại Việt Nam, vắc xin OPV đã được sử dụng trong suốt hơn 30 năm và kết quả cho thấy vắc xin tOPV là rất an toàn. Tuy nhiên, trên thế giới có một tỷ lệ rất nhỏ các trường hợp uống vắc xin bị bại liệt do vi rút vắc xin tái độc lực, chủ yếu là thành phần vi rút bại liệt týp 2 trong vắc xin tOPV gây ra (với tỷ lệ là dưới 1 trường hợp trong số 10 triệu liều vắc xin được sử dụng). Mặc dù nguy cơ này là rất thấp nhưng để đảm bảo không còn bất cứ trường hợp bại liệt nào, tiến tới thanh toán bệnh bại liệt trên toàn cầu, Tổ chức Y tế thế giới yêu cầu tất cả các nước đưa thành phần vi rút bại liệt týp 2 ra khỏi vắc xin tOPV.
Hiện nay, với xu thế hội nhập quốc tế và thực hiện Chiến lược “Kết thúc và thanh toán bệnh Bại liệt trong giai đoạn 2013 - 2018” của Tổ chức Y tế thế giới, Việt Nam sẽ đưa vắc xin bất hoạt tiêm (IPV: Inactivated Polio Vaccine) vào tiêm chủng mở rộng từ quý III năm 2016 song song với việc sử dụng vắc xin bại liệt uống 2 týp (týp 1, týp 3 - bOPV) để thay thế vắc xin bại liệt uống 3 týp (tOPV) nhằm duy trì thành quả thanh toán bệnh bại liệt là việc làm hết sức cần thiết.
Như vậy trong giai đoạn 2016-2020, dự kiến bắt đầu từ tháng 5/2016 sẽ cho trẻ uống 03 liều vắc xin bOPV khi trẻ được 2, 3 và 4 tháng tuổi cùng với tiêm vắc xin Quinvaxem và tiêm 01 liều vắc xin IPV khi trẻ được 5 tháng tuổi (bắt đầu từ tháng 9/2016). Trường hợp trẻ đã uống 1, hoặc 2 hoặc 3 liều vắc xin bOPV từ tháng 5 đến tháng 9/2016 sẽ được tiêm bù 1 mũi vắc xin IPV để đảm bảo có miễn dịch đối với vi rút bại liệt týp 2 với mong muốn của Chính phủ và Ngành Y tế là luôn có được nhiều loại vắc xin và vắc xin an toàn và hiệu quả cho trẻ em Việt Nam.
Thời tiết chuyển lạnh là khoảng thời gian khiến nhiều bậc phụ huynh bắt đầu lo lắng và trăn trở về sức khỏe của con cái. Chúng ta thường có suy nghĩ rằng mùa đông chỉ mang theo những cơn cảm lạnh hay ho sốt thông thường. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các bệnh lây nhiễm nguy hiểm, bao gồm cả những căn bệnh do muỗi truyền như sốt xuất huyết, vẫn luôn rình rập và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe của trẻ nhỏ, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á. Để con có một mùa đông thực sự khỏe mạnh và trọn vẹn, việc trang bị kiến thức về tiêm chủng cũng như các biện pháp phòng bệnh tại nhà là điều vô cùng cần thiết. Bài viết dưới đây sẽ giúp cha mẹ hiểu rõ hơn về cách tạo ra một "lớp áo giáp" vững chắc, nhằm bảo vệ con yêu khỏi những tác nhân gây bệnh trong giai đoạn thời tiết khắc nghiệt này.
Uống cà phê có thể góp phần bổ sung nước cho cơ thể mỗi ngày, nhưng điều quan trọng là phải uống điều độ. Mặc dù cà phê được tính vào lượng chất lỏng cần thiết, nhưng uống quá nhiều có thể dẫn đến mất nước do tác dụng lợi tiểu của nó.
Mùa đông ở miền Bắc nước ta thường mang theo cái lạnh thấu xương, kèm theo độ ẩm cao khiến nhiều gia đình, đặc biệt là người già và trẻ nhỏ, dễ bị nhiễm lạnh và mắc bệnh. Ở một đất nước có mùa đông giá rét và tuyết rơi dày đặc như Nhật Bản, người dân nơi đây từ lâu đã đúc kết được những phương pháp giữ ấm vô cùng độc đáo, kết hợp giữa truyền thống và các sản phẩm hiện đại. Những bí quyết này không chỉ giúp cơ thể luôn ấm áp, phòng tránh bệnh tật mà còn rất tiết kiệm và dễ dàng áp dụng. Dưới đây là những mẹo giữ ấm chuẩn phong cách Nhật Bản mà các bậc cha mẹ Việt có thể học hỏi và áp dụng ngay cho tổ ấm của mình.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.