Theo thống kê của CDC Hoa Kỳ, có khoảng hơn 60 triệu người Mỹ bị dị ứng mỗi năm. WHO thống kê có khoảng 20% dan số thế giới mắc phải một tình trạng dị ứng nào đó. Dưới đây là những hiểu lầm phổ biến về bệnh dị ứng.
Dị ứng chỉ phát triển ở trẻ em?
Một hiểu lầm từ rất lâu cho rằng khi lớn lên, bạn sẽ không bị dị ứng nữa. Tuy nhiên điều này hoàn toàn không đúng. Một nghiên cứu trên hơn 40 nghìn người tại Mỹ cho thấy, có khoảng 10.8% số người mắc một chứng dị ứng thức ăn. Có khoảng một nửa trong số này sẽ bị dị ứng với nhiều loại thức ăn và ít nhất sẽ có 1 loại dị ứng thức ăn phát triển ở tuổi trưởng thành.
Không có cách điều trị bệnh dị ứng?
Nhìn chung, cách tốt nhất để hạn chế phản ứng dị ứng là tránh tiếp xúc với tác nhân gây dị ứng, cho dù đó là dị ứng thức ăn hay dị ứng với động vật. Không có cách chữa khỏi bệnh dị ứng. Tuy nhiên, một số phương pháp điều trị có thể giúp làm giảm hiệu quả các triệu chứng. Ví dụ, các loại thuốc chống ngạt mũi có thể giúp làm giảm các triệu chứng dị ứng ở mũi, trong khi các thuốc antihistamine và xịt steroid ở mũi cũng có thể có hiệu quả.
Ngoài ra, liệu pháp miễn dịch dị ứng cũng có thể giúp làm giảm dị ứng. Liệu pháp này là việc tăng dần liều tiếp xúc với tác nhân gây dị ứng. Từ đó giúp hệ miễn dịch trở nên ít nhạy cảm với các tác nhân gây dị ứng hơn, và sẽ làm giảm triệu chứng dị ứng khi gặp phải các tác nhân gây dị ứng trong tương lai.
Dị ứng thực phẩm và không dung nạp thực phẩm là một?
Điều này không đúng. Dị ứng thực phẩm và không dung nạp thực phẩm là 2 tình trạng khác nhau. Khi bị dị ứng thực phẩm, thì hệ miễn dịch là nơi sinh ra các phản ứng dị ứng, thường là do IgE, làm sản sinh ra histamine và các chất khác, khiến các triệu chứng dị ứng xuất hiện rất nhanh. Ngược lại, không dung nạp thực phẩm thường sẽ không liên quan đến hệ miễn dịch và sẽ cần thời gian dài hơn mới xuất hiện. Chứng không dung nạp thực phẩm không gây đe doạ tính mang, nhưng dị ứng thực phẩm sẽ là tình trạng cấp cứu trong một số trường hợp

Tin tốt là đây là một điều không đúng. Mặc dù một số dạng dị ứng đúng là sẽ kéo dài đến cuối đời nhưng một số dạng dị ứng sẽ biến mất theo tuổi. Việc tình trạng dị ứng có biến mất không cũng còn phụ thuộc vào tác nhân gây dị ứng. Các loại dị ứng với trứng, sữa, đậu nành và lúa mì có thể biến mất khi lớn lên nhưng dị ứng với lạc, hạt cây, cá và động vật có vỏ cứng thường sẽ theo bạn đến suốt cuộc đời
Dị ứng đậu phộng là dạng dị ứng nguy hiểm nhất?
Mặc dù dị ứng đậu phộng rất phổ biến, ảnh hưởng đến khoảng 6.1 triệu người tại Mỹ và có thể gây nguy hiểm, nhưng không có một thang đo nào có thể giúp xếp hạng mức độ nghiêm trọng của các bệnh dị ứng. Một số người sẽ chỉ có phản ứng nhẹ, nhưng một số người khác có thể dẫn đến sốc phản vệ. Tương tự với các loại thực phẩm khác. Mức độ nghiêm trọng của phản ứng dị ứng phụ thuộc vào hệ miễn dịch của từng người.
Dị ứng sẽ không nghiêm trọng?
Với nhiều người dị ứng chỉ đem lại cảm giác khó chịu mà thôi. Tuy nhiên với một số người, phản ứng dị ứng có thể gây sốc phản vệ. Trong quá trình sốc phản vệ, cơ thể sẽ giải phóng ra quá nhiều histamine gây ra các đáp ứng viêm. Triệu chứng bao gồm khó thở, khò khè, đau bụng, tiêu chảy, lo âu, sưng phù chân, tay, mắt, môi và đôi khi là cả bộ phận sinh dục, bất tỉnh.
Thường xuyên tiếp xúc với động vật sẽ làm giảm dị ứng?
Nhiều người tin rằng nếu một người bị dị ứng với một loại vật nuôi nào đó, thì việc thường xuyên tiếp xúc, ở gần loại vật nuôi đó sẽ giúp cải thiện tình trạng dị ứng. Nhưng điều này không đúng. Trên thực tế, một số người chủ của vật nuôi còn dần dần bị dị ứng với con vật của họ theo thời gian. Nguyên nhân là vì, một khi hệ miễn dịch đã nhạy cảm với một tác nhân nào đó, thì cá nhân người đó vẫn sẽ bị dị ứng khi tiếp xúc với một lượng lớn tác nhân đó. Việc “thực hành liệu pháp miễn dịch” tại nhà bằng cách tăng dần mức độ tiếp xúc sẽ không có hiệu quả. Liệu pháp này chỉ có tác dụng dưới sự theo dõi và hướng dẫn của bác sĩ.
Một điểm khác liên quan đến dị ứng vật nuôi đó là, việc tiếp xúc sớm với vật nuôi sẽ làm giảm nguy cơ dị ứng. Hay nói cách khác, nếu cho trẻ nhỏ nuôi vật nuôi trong nhà sớm, từ khi còn nhỏ, thì trẻ sẽ ít có nguy cơ bị dị ứng với con vật đó hơn khi lớn lên.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những điều cần biết về tiêm phòng dị ứng
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.
Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.
Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.