Biến chứng của xuất huyết dưới nhện
Xuất huyết dưới nhện, hay còn gọi là chảy máu dưới màng nhện (SAH) là một tình trạng cấp cứu, xuất hiện đột ngột và có thể đe dọa đến tính mạng khi máu tràn ra từ một động mạch trong não gây tổn thương nặng nề đến toàn bộ cấu trúc não.

Chỉ khoảng 1/3 số bệnh nhân xuất huyết dưới nhện có kết quả tốt sau khi điều trị tích cực. Phần lớn các trường hợp, xuất huyết dưới nhện có thể dẫn đến một loạt những vấn đề nặng nề. Người bị xuất huyết dưới nhện luôn được theo dõi ở phòng hồi sức cấp cứu ngay từ khi nhập viện.
Có 4 biến chứng chính của xuất huyết dưới nhện. Những biến chứng này bao gồm co thắt mạch, não úng thủy, co giật và tái chảy máu.
Co thắt mạch sau xuất huyết dưới nhện
Thuật ngữ co thắt mạch có nghĩa là mạch máu trong não co lại và nhỏ đi, giảm hoặc đôi khi dừng cấp máu cho các phần của não. Hậu quả là dẫn đến đột quỵ.
Co thắt mạch thường xảy ra 7 đến 10 ngày sau khi chảy máu lần đầu. Do co mạch khó điều trị nếu xảy ra, việc quan trọng nhất của chăm sóc tại bệnh viện là dự phòng tình trạng này xuất hiện. Thuốc huyết áp như nimodipine làm giảm hậu quả do co mạch, mặc dù không làm giảm nguy cơ tiến triển co mạch lúc ban đầu.
Lượng máu trong cơ thể quá ít cũng liên quan đến nguy cơ co mạch, chính vì thế bệnh nhân được truyền đủ dịch qua tĩnh mạch để duy trì thể tích máu trung bình. Những kĩ thuật thử nghiệm khác cho việc dự phòng co mạch bao gồm dùng thuốc statin.
Những người bị xuất huyết dưới nhện được theo dõi chặt chẽ những biểu hiện co mạch bằng kiểm tra thường xuyên các dấu hiệu thần kinh. Nếu kết quả thử nghiệm đột nhiên xấu đi, điều này có nghĩa là co mạch đang diễn ra. Sử dụng những kĩ thuật như Doppler xuyên sọ cũng là một trong những phương pháp kiểm tra tình trạng co mạch.
Đề điều trị co mạch, huyết áp được giữ ở mức cao, trừ khi bệnh nhân đã bị tăng huyết áp hoặc bệnh tim mạch chống chỉ định với cách tiếp cận này.
Nếu co mạch vẫn tiếp tục sau khi đã áp dụng điều trị làm tăng huyết áp, những sự lựa chọnchuyên sâu hơn như tạo hình mạch (mở mạch máu bằng catheter đi qua hết mạch máu) hoặc sử dụng catheter để tiêm thuốc trực tiếp vào điểm hẹp có thể được sử dụng.
Não úng thủy
Đôi khi cục máu đông hình thành từ xuất huyết dưới nhện có thể bị nghẽn ở một trong những điểm lưu thông của dịch não tủy. Bình thường dịch não tủy được sản xuất ở não thất và sau đó đi qua những lỗ nhỏ chảy xuống tủy sống. Nếu những lỗ này bị tắc, dịch nào tủy không thể thoát ra ngoài. Hậu quả là tăng áp lực trong não thất, dẫn đến não úng thủy. Tăng áp lực nội sọ sẽ lan tỏa khắp não và hộp sọ.
Tăng áp lực nội sọ có thể dẫn đến giảm nhận thức và hôn mê. Nếu không được điều trị, não có thể tụt kẹt, dẫn đến tử vong. Để tránh tăng áp lực, kỹ thuật chọc dịch não tủy có thể được áp dụng để dẫn lưu dịch nào tủy ra ngoài.
Co giật
Máu xuất huyết có thể tràn ra và kích thích vỏ não và dẫn đến co giật. Tuy nhiên, chỉ một số nhỏ phần trăm số bệnh nhân xuất huyết dưới nhện bị động kinh. Bác sĩ có thể cân nhắc sử dụng thuốc dự phòng chống động kinh ngay lập tức sau khi chảy máu. Nhưng việc sử dụng kéo dài thuốc này do các nguy cơ về tác dụng phụ.
Tái chảy máu
Sau xuất huyết dưới nhện, nguy cơ tái chảy máu tái phát là từ 3-13% trong vòng 24 giờ đầu, theo một nghiên cứu công bố năm 2012 trên trang Stroke. Khám lâm sàng thần kinh thường xuyên và chụp CT theo từng thời điểm, đặc biệt ngay sau lần xuất huyết đầu tiên có thể giúp phát hiện tái chảy máu.
Để tránh tái chảy máu, các điểm phình mạch có nguy cơ cao gây chảy máu ở não phải được xử lý kịp thời.
Bên cạnh bốn biến chứng chính của xuất huyết dưới nhện, thật không may, vẫn có một số nguy cơ tiềm ẩn khác cần được chăm sóc tích cực. Huyết khối sâu ở chân, hạ natri huyết và nhiễm trùng bệnh viện cũng phải được dự phòng.
Sống sót qua chảy máu ban đầu chỉ là một phần của thách thức của xuất huyết dưới nhện. Để hạn chế tối đa các biến chứng của xuất huyết dưới nhện, cần có chế độ chăm sóc rất tích cực của cán bộ y tế và nhất là sự hợp tác chặt chẽ của bạn với cán bộ y tế.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Dự phòng đột quỵ do xuất huyết
Kỳ nghỉ Tết thường đi kèm với sự thay đổi đột ngột trong chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt, gây áp lực trực tiếp lên hệ tiêu hóa, chuyển hóa và hệ thần kinh.
Làm việc ca đêm khiến nhịp sinh học đảo lộn, kéo theo rối loạn nội tiết ở phụ nữ. Tình trạng này ảnh hưởng đến kinh nguyệt, sinh sản và sức khỏe lâu dài nếu không được kiểm soát.
Hở van tim là bệnh lý tim mạch có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tiến triển âm thầm nhưng tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm. Nhận biết sớm các dấu hiệu của hở van tim và hiểu rõ mức độ nguy hiểm của bệnh giúp người bệnh chủ động thăm khám, điều trị kịp thời, hạn chế rủi ro cho sức khỏe.
Pháo hoa từ lâu đã là một phần của Tết cổ truyền trong văn hóa người Á Đông. Nhiều người tin rằng tiếng pháo nổ sẽ xua đuổi vận rủi và những điều tiêu cực, mở đường cho may mắn trong năm mới. Tuy nhiên, trong khi pháo hoa mang lại sự phấn khích và ý nghĩa cho đêm giao thừa, chúng cũng tiềm ẩn những rủi ro về an toàn cho mọi người xung quanh. Cùng tìm hiểu về những rủi ro có thể gặp phải khi đốt pháo và những bước xử trí đúng cách qua bài viết sau!
Những thói quen đơn giản như ăn uống điều độ, vận động nhẹ, ngủ đủ, giữ tinh thần lạc quan và kết nối xã hội có thể giúp kéo dài tuổi thọ và tăng chất lượng cuộc sống.
Vào dịp cuối năm, khi không khí se lạnh, việc dọn nhà đón Tết Nguyên Đán là một hoạt động truyền thống quen thuộc, không chỉ giúp không gian sống gọn gàng, sạch sẽ mà còn có tác dụng tốt cho sức khỏe, môi trường và phòng bệnh.
Hội chứng tim do rượu bia trong kỳ nghỉ là tình trạng rung nhĩ do uống quá nhiều rượu gây ra. Trong mùa lễ hội hoặc các đám cưới, lễ tốt nghiệp, hoặc các dịp khác khi lượng rượu thường được tiêu thụ nhiều hơn bình thường, những người trẻ tuổi khỏe mạnh thường dễ bị các cơn rung nhĩ . Bài viết này thảo luận về rung nhĩ, nguyên nhân gây ra nó và mối liên hệ với việc tiêu thụ rượu.
Tiêm trẻ hóa da được quảng bá là giải pháp làm đẹp nhanh chóng, ít xâm lấn. Tuy nhiên, các bác sĩ cảnh báo phương pháp này tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm nếu thực hiện sai cách.