Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bệnh ghẻ ở trẻ em

Bệnh ghẻ (scabies) là một trong những bệnh da liễu thường gặp ở trẻ em, đặc biệt trong môi trường đông đúc, vệ sinh chưa đảm bảo như nhà trẻ, trường học hoặc khu dân cư có điều kiện sinh hoạt hạn chế. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm trên toàn cầu ghi nhận từ 200–300 triệu ca mắc ghẻ, một con số cho thấy mức độ phổ biến đáng báo động.

Ở trẻ em, bệnh ghẻ không chỉ gây ngứa ngáy dữ dội, đặc biệt về đêm, mà còn làm trẻ mất ngủ, quấy khóc, ảnh hưởng đến sức khỏe toàn trạng. Nếu kéo dài, các vết gãi xước dễ dẫn đến nhiễm trùng da, viêm mô tế bào, thậm chí biến chứng nặng ở trẻ có cơ địa yếu. Chính vì vậy, phụ huynh cần có hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng ngừa bệnh ghẻ, từ đó chủ động bảo vệ sức khỏe cho trẻ.

Phân loại ghẻ

1. Ghẻ thông thường

Nhiễm ghẻ gây ngứa toàn thân thường nặng nhất vào ban đêm. Thường có tiền sử tiếp xúc với người bị ghẻ. Biểu hiện phổ biến của ghẻ ở trẻ em bao gồm các hang, sẩn đỏ và các nốt viêm, kèm theo đó là các vết trầy xước thứ phát. Các hang và sẩn đỏ viêm có phân bố điển hình, ảnh hưởng đến các chi gấp, bao gồm các nếp gấp nách trước, khuỷu tay, cổ tay và mu bàn chân; bề mặt chi, đặc biệt là khoảng kẽ ngón chân và bàn chân; vùng hậu môn và vùng quanh vốn.

Trẻ nhỏ thường có các sấn và mảng đỏ vảy lan rộng và các vùng chàm chầy xước không rõ ràng, đặc biệt là ở trên thân mình. Bệnh da thứ phát ngứa lan rộng này thường gây khó chịu và đau đớn cho trẻ em và người chăm sóc hơn nhiễm trùng nguyên phát. Trở sơ sinh rất khó gãi và trở nên cáu kỉnh. Ở trẻ em, các biểu hiện như nốt sần hoặc mụn nước thường xuất hiện ít hơn.

Figure 7

2. Ghẻ vảy

Đây là một loại ghẻ vảy hiếm gặp ở trẻ em do tình trạng nhiễm trùng nghiệm trọng với hàng triệu con ghẻ, dẫn đến cá mảng tăng sừng hóa hoặc da đóng vảy. Khi gặp ở trẻ em, ghẻ vảy thường gặp ở những trẻ bị suy giảm miễn dịch mạnh hoặc mắc bệnh mạn tính. Đây là tình trạng lây nhiêm cao, gây suy nhược và biến dạng với tỉ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Trong đó gánh nặng ghẻ vẩy cao làm cho khả năng lây truyền của bệnh nhân gia tăng đánh kể, làm nghiệm trọng hóa các vấn đề da. Cần cân nhắc việc tiếp xúc với người bệnh, dễ có khả năng người khỏi bệnh lại bi nhiễm virus l

Nguyên nhân gây bệnh ghẻ ở trẻ em

1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh ghẻ là cái ghẻ Sarcoptes scabiei var. hominis, một loại ký sinh trùng rất nhỏ (khoảng 0,2–0,4 mm), không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Con cái ghẻ có khả năng đào hang trong lớp sừng của da và đẻ từ 2–3 trứng mỗi ngày. Vòng đời ký sinh trùng kéo dài khoảng 30 ngày, đủ để bệnh lan rộng nếu không can thiệp điều trị.

2. Con đường lây truyền

Bệnh ghẻ lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp da – kề – da, đặc biệt khi tiếp xúc kéo dài. Ở trẻ em, các tình huống dễ lây gồm:

  • Ôm, bế, nắm tay người đang mắc ghẻ
  • Chơi đùa gần gũi trong nhà trẻ, lớp học
  • Ngủ chung giường, đắp chung chăn

Ngoài ra, ghẻ còn lây gián tiếp qua:

  • Quần áo, khăn tắm, chăn gối
  • Đồ dùng cá nhân như găng tay, đồ chơi vải, thú bông

Ở những gia đình nuôi thú cưng, trẻ có thể tiếp xúc với các loại ghẻ động vật. Tuy một số loại ghẻ động vật không sống lâu trên da người, chúng vẫn có thể gây kích ứng mạnh.

3. Các yếu tố nguy cơ

  • Môi trường sống ẩm thấp, đông người, ít ánh nắng
  • Thói quen vệ sinh kém, trẻ ít được tắm rửa hoặc thay quần áo
  • Trẻ có hệ miễn dịch yếu, sinh non, suy dinh dưỡng
  • Trẻ mắc các bệnh da liễu khác khiến hàng rào da suy giảm
  • Sống trong khu vực có tỷ lệ mắc ghẻ cao

Triệu chứng của bệnh ghẻ ở trẻ em

Triệu chứng của bệnh ghẻ thường tiến triển từ từ, dễ bị nhầm với viêm da dị ứng hoặc mề đay, khiến việc chẩn đoán ở trẻ nhỏ trở nên khó khăn nếu phụ huynh không để ý.

1. Ngứa dữ dội về đêm

Ngứa là triệu chứng điển hình nhất. Trẻ thường:

  • Ngứa nhiều hơn khi đi ngủ
  • Gãi nhiều đến mức chảy máu
  • Quấy khóc, khó ngủ, trằn trọc

Nguyên nhân là cái ghẻ hoạt động mạnh vào ban đêm, di chuyển và đào hang nhiều hơn.

2. Tổn thương da điển hình

Các tổn thương da thường gặp:

  • Mụn nước nhỏ (1–2 mm), màu đỏ hoặc trong suốt
  • Sẩn đỏ li ti xếp thành rải rác
  • Hầm ghẻ: những đường mảnh màu xám trắng, ngoằn ngoèo – nơi cái ghẻ đào hang
  • Vùng da bị kích ứng, trầy xước do gãi

Vị trí hay gặp ở trẻ:

  • Kẽ ngón tay, cổ tay
  • Khuỷu tay
  • Nách
  • Bụng, mông, đùi
  • Bàn chân, lòng bàn tay (đặc biệt ở trẻ sơ sinh)

3. Biến chứng nếu không điều trị

  • Viêm da mủ, loét da
  • Nhiễm trùng mô mềm
  • Nguy cơ viêm cầu thận cấp do liên cầu khuẩn nếu nhiễm trùng kéo dài
  • Sẹo thâm gây mất thẩm mỹ

Các biến chứng này cho thấy bệnh ghẻ không đơn thuần là bệnh ngoài da lành tính mà có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu chủ quan.

Chẩn đoán bệnh ghẻ ở trẻ em

Nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán và quan trọng là kiểm soát bệnh tật cho cá nhân và môi trường của họ. Chẩn đoán sai rất phổ biến và có thể chiếm tới một nửa số trường hợp nghi ngờ, điều này có thể dẫn đến bệnh tật, lây truyền trong cộng đồng và gánh nặng kinh tế. Điều quan trọng là phải xác định tiền sử ngứa ở các thành viên khác trong gia đình, những người chăm sóc khác và những người tiếp xúc thông thường, tức là ở trường học, nhóm vui chơi và quan hệ tình dục, điều này có thể cung cấp những manh mối quan trọng cho việc chẩn đoán.

Cần tiến hành kiểm tra toàn bộ bề mặt da của trẻ, tìm kiếm các tổn thương sẩn, trầy xước. Tiền sử ngứa điển hình, nặng nhất vào ban đêm, với các tổn thương sẩn, trầy xước phân bố theo kiểu điển hình là đủ để đảm bảo điều trị theo kinh nghiệm, đặc biệt khi điều trị cho bệnh nhân có nguy cơ cao hoặc trong cộng đồng có nguy cơ cao hoặc có khả năng tiếp xúc với người bị ảnh hưởng.

Nếu có thể, xét nghiệm khẳng định chẩn đoán ghẻ là cạo da, quan sát dưới kính hiển vi để xác nhận sự hiện diện của ghẻ, trứng và phân. Nên lấy mẫu cạo từ đầu và thân của các tổn thương nghi ngờ, sau đó ngâm trong dầu khoáng hoặc kali hydroxit 20% để đánh giá bằng chứng vi thể của ghẻ, trứng và phân. Sự hiện diện của ghẻ hoặc vỏ trứng dưới kính hiển vi có độ đặc hiệu cao. Mặc dù độ nhạy có thể thay đổi tùy thuộc vào kỹ thuật lấy mẫu và gắn mẫu của từng người thực hiện cũng như bệnh nhân có số lượng ghẻ thấp. Kết quả cạo da âm tính không loại trừ chẩn đoán.

Các phương pháp thay thế có thể được sử dụng để chẩn đoán ghẻ bao gồm xét nghiệm mực hang và bóc băng dính. Xét nghiệm mực hang bao gồm việc bôi mực lên các hang có thể nhìn thấy trên da, sau đó loại bỏ mực thừa bằng chế phẩm cồn, cho phép hình dung cấu trúc hang cong điển hình. Bóc băng dính bao gồm việc dán băng dính lên các vùng nghi ngờ ghẻ đang được kiểm tra. Xét nghiệm này hữu ích nhất trong các trường hợp ghẻ nặng. Băng dính được dán lên da và sau đó kéo ra để bóc lớp sừng cùng với ghẻ hoặc sản phẩm của chúng. Sau đó, băng dính được quan sát trên kính hiển vi sau khi được chuyển sang lam kính để tìm kiếm bằng chứng ghẻ.

 Điều trị bệnh ghẻ ở trẻ em

Điều trị bệnh ghẻ cần đúng thuốc – đúng cách – đồng bộ – đủ thời gian. Nhiều trường hợp thất bại do phụ huynh chỉ thoa thuốc ở vài vị trí hoặc không điều trị cho cả gia đình.

Việc quản lý bệnh ghẻ bao gồm cả diệt trừ ghẻ bằng phươn pháp dược liệu, các chiến lược ngăn ngừa sự lây lan của ghẻ sang người khác, và theo dõi và điều trị các biến chứng có thể liên quan đến ghẻ, tức là ngứa kèm theo và nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Người bị nhiễm ghẻ và những người tiếp xúc gần gũi với họ nên được điều trị đồng thời, bất kể có triệu chứng hay không do tỷ lệ nhiễm ghẻ không triệu chứng ở người mang mầm bệnh và thời gian khởi phát triệu chứng tiềm ẩn. Hơn nữa, bệnh nhân nên tránh tiếp xúc gần gũi cho đến khi hoàn tất các phác đồ diệt ghẻ để ngăn ngừa tái nhiễm. Trong các vùng lưu hành bệnh với những lo ngại về khả năng tiếp cận, tuân thủ điều trị và tình trạng nhiễm trùng quá mức, điều trị bằng phác đồ dùng thuốc hàng loạt đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mắc ghẻ và các biến chứng của nó.

Điều trị bằng thuốc cho bệnh nhi mắc ghẻ thông thường không biến chứng đạt hiệu quả tốt nhất bằng thuốc bôi ngoài da permethrin 5%. Iverrmection dạng viên uống được cho là an toàn khi sử dụng đối với các trường hợp chuyển biến xấu của bệnh. Tùy thuộc vào quốc gia và nguồn lực tài chính, các phương pháp điều trị sẽ khác nhau.

Biến chứng của bệnh ghẻ

Gãi thường dai dẳng là hậu quả thứ phát của kích ứng da do cái ghẻ gây ra. Dẫn đến phản ứng quá mẫn chậm. Các sẩn ghẻ nguyên phát bị bào mòn và trầy xước cùng các mảng chàm thứ phát dẫn đến suy giảm chức năng hàng rào bảo vệ da và nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Chốc lở nông thường biểu hiện dưới dạng vảy tiết/mủ vàng hoặc mụn mủ mềm.

Tụ cầu vàng có thể gây ra chốc lở cấp tính nông, áp xe, viêm mô tế bào, viêm da, viêm quanh móng và nhọt nhưng có thể tiến triển thành viêm tủy xương, viêm nội tâm mạc và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn đe dọa tính mạng. Việc sàng lọc tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) và lựa chọn kháng sinh phù hợp là những cân nhắc quan trọng đối với nhóm điều trị.

Nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng da và mô mềm cấp tính tại chỗ, bao gồm viêm mủ nông, áp xe da và viêm mô tế bào, dẫn đến viêm cân hoại tử nặng hơn.

Phòng ngừa bệnh ghẻ ở trẻ em

1. Vệ sinh cá nhân

  • Tắm rửa hằng ngày
  • Thay quần áo sạch thường xuyên
  • Giữ móng tay trẻ ngắn, sạch

2. Giữ vệ sinh môi trường sống

  • Nhà ở thoáng mát, có ánh nắng
  • Giặt chăn mền định kỳ
  • Hạn chế trẻ tiếp xúc quá gần với người nghi mắc ghẻ

3. Giáo dục trẻ

  • Không dùng chung khăn, áo, gối
  • Không nằm chung giường với bạn bị ghẻ
Bình luận
Tin mới
  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

  • 27/10/2026

    Ung thư vú: Ai dễ mắc và Cách tự khám tại nhà trong 5 phút

    Trong hành trình yêu thương bản thân, việc thấu hiểu cơ thể là bước đầu tiên để phái đẹp bảo vệ sức khỏe trọn vẹn. Ung thư vú là căn bệnh thường gặp do các tế bào tuyến vú phát triển ngoài tầm kiểm soát, nhưng hoàn toàn có thể chữa lành hiệu quả khi được phát hiện kịp thời, giúp việc điều trị trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhằm đồng hành và tiếp thêm sự tự tin cho chị em, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những dấu hiệu nhận biết cùng các bước tự kiểm tra tại nhà đơn giản. Đây sẽ là giải pháp lắng nghe cơ thể hiệu quả, giúp phái đẹp luôn chủ động gìn giữ sức khỏe và an yên trong cuộc sống.

  • 26/10/2026

    Thịt sống, rau sống và thực phẩm chín trong tủ lạnh: Những sai lầm bảo quản khiến nguy cơ nhiễm khuẩn tăng cao

    Tủ lạnh giúp làm chậm sự phát triển của vi khuẩn nhưng không tiêu diệt được chúng. Việc sắp xếp thịt sống, rau sống và thức ăn chín không đúng cách có thể khiến vi khuẩn lây chéo giữa các loại thực phẩm và gây ngộ độc thực phẩm ngay tại gia đình.

  • 26/10/2026

    Phòng ngừa cảm cúm mùa khi giao mùa

    Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.

Xem thêm