Ở trẻ em, bệnh ghẻ không chỉ gây ngứa ngáy dữ dội, đặc biệt về đêm, mà còn làm trẻ mất ngủ, quấy khóc, ảnh hưởng đến sức khỏe toàn trạng. Nếu kéo dài, các vết gãi xước dễ dẫn đến nhiễm trùng da, viêm mô tế bào, thậm chí biến chứng nặng ở trẻ có cơ địa yếu. Chính vì vậy, phụ huynh cần có hiểu biết rõ ràng về nguyên nhân, triệu chứng, cách điều trị và phòng ngừa bệnh ghẻ, từ đó chủ động bảo vệ sức khỏe cho trẻ.
Phân loại ghẻ
1. Ghẻ thông thường
Nhiễm ghẻ gây ngứa toàn thân thường nặng nhất vào ban đêm. Thường có tiền sử tiếp xúc với người bị ghẻ. Biểu hiện phổ biến của ghẻ ở trẻ em bao gồm các hang, sẩn đỏ và các nốt viêm, kèm theo đó là các vết trầy xước thứ phát. Các hang và sẩn đỏ viêm có phân bố điển hình, ảnh hưởng đến các chi gấp, bao gồm các nếp gấp nách trước, khuỷu tay, cổ tay và mu bàn chân; bề mặt chi, đặc biệt là khoảng kẽ ngón chân và bàn chân; vùng hậu môn và vùng quanh vốn.
Trẻ nhỏ thường có các sấn và mảng đỏ vảy lan rộng và các vùng chàm chầy xước không rõ ràng, đặc biệt là ở trên thân mình. Bệnh da thứ phát ngứa lan rộng này thường gây khó chịu và đau đớn cho trẻ em và người chăm sóc hơn nhiễm trùng nguyên phát. Trở sơ sinh rất khó gãi và trở nên cáu kỉnh. Ở trẻ em, các biểu hiện như nốt sần hoặc mụn nước thường xuất hiện ít hơn.
2. Ghẻ vảy
Đây là một loại ghẻ vảy hiếm gặp ở trẻ em do tình trạng nhiễm trùng nghiệm trọng với hàng triệu con ghẻ, dẫn đến cá mảng tăng sừng hóa hoặc da đóng vảy. Khi gặp ở trẻ em, ghẻ vảy thường gặp ở những trẻ bị suy giảm miễn dịch mạnh hoặc mắc bệnh mạn tính. Đây là tình trạng lây nhiêm cao, gây suy nhược và biến dạng với tỉ lệ mắc bệnh và tử vong cao. Trong đó gánh nặng ghẻ vẩy cao làm cho khả năng lây truyền của bệnh nhân gia tăng đánh kể, làm nghiệm trọng hóa các vấn đề da. Cần cân nhắc việc tiếp xúc với người bệnh, dễ có khả năng người khỏi bệnh lại bi nhiễm virus l
Nguyên nhân gây bệnh ghẻ ở trẻ em
1. Tác nhân gây bệnh
Tác nhân gây bệnh ghẻ là cái ghẻ Sarcoptes scabiei var. hominis, một loại ký sinh trùng rất nhỏ (khoảng 0,2–0,4 mm), không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Con cái ghẻ có khả năng đào hang trong lớp sừng của da và đẻ từ 2–3 trứng mỗi ngày. Vòng đời ký sinh trùng kéo dài khoảng 30 ngày, đủ để bệnh lan rộng nếu không can thiệp điều trị.
2. Con đường lây truyền
Bệnh ghẻ lây chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp da – kề – da, đặc biệt khi tiếp xúc kéo dài. Ở trẻ em, các tình huống dễ lây gồm:
Ngoài ra, ghẻ còn lây gián tiếp qua:
Ở những gia đình nuôi thú cưng, trẻ có thể tiếp xúc với các loại ghẻ động vật. Tuy một số loại ghẻ động vật không sống lâu trên da người, chúng vẫn có thể gây kích ứng mạnh.
3. Các yếu tố nguy cơ
Triệu chứng của bệnh ghẻ ở trẻ em
Triệu chứng của bệnh ghẻ thường tiến triển từ từ, dễ bị nhầm với viêm da dị ứng hoặc mề đay, khiến việc chẩn đoán ở trẻ nhỏ trở nên khó khăn nếu phụ huynh không để ý.
1. Ngứa dữ dội về đêm
Ngứa là triệu chứng điển hình nhất. Trẻ thường:
Nguyên nhân là cái ghẻ hoạt động mạnh vào ban đêm, di chuyển và đào hang nhiều hơn.
2. Tổn thương da điển hình
Các tổn thương da thường gặp:
Vị trí hay gặp ở trẻ:
3. Biến chứng nếu không điều trị
Các biến chứng này cho thấy bệnh ghẻ không đơn thuần là bệnh ngoài da lành tính mà có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu chủ quan.
Chẩn đoán bệnh ghẻ ở trẻ em
Nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng là điều kiện tiên quyết để chẩn đoán và quan trọng là kiểm soát bệnh tật cho cá nhân và môi trường của họ. Chẩn đoán sai rất phổ biến và có thể chiếm tới một nửa số trường hợp nghi ngờ, điều này có thể dẫn đến bệnh tật, lây truyền trong cộng đồng và gánh nặng kinh tế. Điều quan trọng là phải xác định tiền sử ngứa ở các thành viên khác trong gia đình, những người chăm sóc khác và những người tiếp xúc thông thường, tức là ở trường học, nhóm vui chơi và quan hệ tình dục, điều này có thể cung cấp những manh mối quan trọng cho việc chẩn đoán.
Cần tiến hành kiểm tra toàn bộ bề mặt da của trẻ, tìm kiếm các tổn thương sẩn, trầy xước. Tiền sử ngứa điển hình, nặng nhất vào ban đêm, với các tổn thương sẩn, trầy xước phân bố theo kiểu điển hình là đủ để đảm bảo điều trị theo kinh nghiệm, đặc biệt khi điều trị cho bệnh nhân có nguy cơ cao hoặc trong cộng đồng có nguy cơ cao hoặc có khả năng tiếp xúc với người bị ảnh hưởng.
Nếu có thể, xét nghiệm khẳng định chẩn đoán ghẻ là cạo da, quan sát dưới kính hiển vi để xác nhận sự hiện diện của ghẻ, trứng và phân. Nên lấy mẫu cạo từ đầu và thân của các tổn thương nghi ngờ, sau đó ngâm trong dầu khoáng hoặc kali hydroxit 20% để đánh giá bằng chứng vi thể của ghẻ, trứng và phân. Sự hiện diện của ghẻ hoặc vỏ trứng dưới kính hiển vi có độ đặc hiệu cao. Mặc dù độ nhạy có thể thay đổi tùy thuộc vào kỹ thuật lấy mẫu và gắn mẫu của từng người thực hiện cũng như bệnh nhân có số lượng ghẻ thấp. Kết quả cạo da âm tính không loại trừ chẩn đoán.
Các phương pháp thay thế có thể được sử dụng để chẩn đoán ghẻ bao gồm xét nghiệm mực hang và bóc băng dính. Xét nghiệm mực hang bao gồm việc bôi mực lên các hang có thể nhìn thấy trên da, sau đó loại bỏ mực thừa bằng chế phẩm cồn, cho phép hình dung cấu trúc hang cong điển hình. Bóc băng dính bao gồm việc dán băng dính lên các vùng nghi ngờ ghẻ đang được kiểm tra. Xét nghiệm này hữu ích nhất trong các trường hợp ghẻ nặng. Băng dính được dán lên da và sau đó kéo ra để bóc lớp sừng cùng với ghẻ hoặc sản phẩm của chúng. Sau đó, băng dính được quan sát trên kính hiển vi sau khi được chuyển sang lam kính để tìm kiếm bằng chứng ghẻ.
Điều trị bệnh ghẻ ở trẻ em
Điều trị bệnh ghẻ cần đúng thuốc – đúng cách – đồng bộ – đủ thời gian. Nhiều trường hợp thất bại do phụ huynh chỉ thoa thuốc ở vài vị trí hoặc không điều trị cho cả gia đình.
Việc quản lý bệnh ghẻ bao gồm cả diệt trừ ghẻ bằng phươn pháp dược liệu, các chiến lược ngăn ngừa sự lây lan của ghẻ sang người khác, và theo dõi và điều trị các biến chứng có thể liên quan đến ghẻ, tức là ngứa kèm theo và nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Người bị nhiễm ghẻ và những người tiếp xúc gần gũi với họ nên được điều trị đồng thời, bất kể có triệu chứng hay không do tỷ lệ nhiễm ghẻ không triệu chứng ở người mang mầm bệnh và thời gian khởi phát triệu chứng tiềm ẩn. Hơn nữa, bệnh nhân nên tránh tiếp xúc gần gũi cho đến khi hoàn tất các phác đồ diệt ghẻ để ngăn ngừa tái nhiễm. Trong các vùng lưu hành bệnh với những lo ngại về khả năng tiếp cận, tuân thủ điều trị và tình trạng nhiễm trùng quá mức, điều trị bằng phác đồ dùng thuốc hàng loạt đã thành công trong việc giảm tỷ lệ mắc ghẻ và các biến chứng của nó.
Điều trị bằng thuốc cho bệnh nhi mắc ghẻ thông thường không biến chứng đạt hiệu quả tốt nhất bằng thuốc bôi ngoài da permethrin 5%. Iverrmection dạng viên uống được cho là an toàn khi sử dụng đối với các trường hợp chuyển biến xấu của bệnh. Tùy thuộc vào quốc gia và nguồn lực tài chính, các phương pháp điều trị sẽ khác nhau.
Biến chứng của bệnh ghẻ
Gãi thường dai dẳng là hậu quả thứ phát của kích ứng da do cái ghẻ gây ra. Dẫn đến phản ứng quá mẫn chậm. Các sẩn ghẻ nguyên phát bị bào mòn và trầy xước cùng các mảng chàm thứ phát dẫn đến suy giảm chức năng hàng rào bảo vệ da và nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn. Chốc lở nông thường biểu hiện dưới dạng vảy tiết/mủ vàng hoặc mụn mủ mềm.
Tụ cầu vàng có thể gây ra chốc lở cấp tính nông, áp xe, viêm mô tế bào, viêm da, viêm quanh móng và nhọt nhưng có thể tiến triển thành viêm tủy xương, viêm nội tâm mạc và nhiễm trùng huyết do vi khuẩn đe dọa tính mạng. Việc sàng lọc tụ cầu vàng kháng methicillin (MRSA) và lựa chọn kháng sinh phù hợp là những cân nhắc quan trọng đối với nhóm điều trị.
Nhiễm trùng thứ phát do vi khuẩn có thể gây nhiễm trùng da và mô mềm cấp tính tại chỗ, bao gồm viêm mủ nông, áp xe da và viêm mô tế bào, dẫn đến viêm cân hoại tử nặng hơn.
Phòng ngừa bệnh ghẻ ở trẻ em
1. Vệ sinh cá nhân
2. Giữ vệ sinh môi trường sống
3. Giáo dục trẻ
68% lao động tự do làm việc ngoài trời có ít nhất một triệu chứng cơ - xương - khớp sau mỗi ngày làm việc, 33% biểu hiện lo âu từ nhẹ đến rất nặng, theo nghiên cứu công bố hôm 14/8.
Có tới 95,4% lao động tự do ngoài trời được khảo sát phải làm việc dưới nắng nóng, nhưng chỉ 19,1% có thể ngừng việc khi nhiệt độ gay gắt. Biến đổi khí hậu đang tạo sức ép kép lên sức khỏe và sinh kế của một lực lượng lao động lớn, trong khi cơ chế bảo vệ vẫn còn những khoảng trống.
Mùa hè đến mang theo tiếng gọi của biển xanh và những chuyến đi nghỉ dưỡng tuyệt vời. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm làn da phải đối mặt với thử thách từ ánh nắng mặt trời gay gắt, gió biển và nước muối mặn, dẫn đến tình trạng đen sạm, bỏng rát hay kích ứng da. Nhằm giúp bạn bảo vệ làn da trọn vẹn trong kỳ nghỉ, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về 5 sai lầm phổ biến nhất hủy hoại làn da khi đi biển và cách khắc phục ngay dưới đây.
Không ít người trên 50 tuổi than phiền rằng ăn ít hơn nhưng không giảm cân, thậm chí vòng bụng còn tăng. Nguyên nhân không đơn thuần nằm ở lượng thức ăn, mà còn liên quan đến những thay đổi tự nhiên của quá trình lão hóa và mức độ hoạt động thể lực.
Bữa ăn vội vã cùng thói quen vừa ăn vừa lướt điện thoại, máy tính sẽ gây áp lực lên hệ tiêu hóa, khiến việc giảm cân khó khăn. Khi ăn chậm nhai kỹ giúp cơ thể nhận biết tín hiệu no đúng lúc, từ đó kiểm soát lượng calo nạp vào và hỗ trợ giảm cân bền vững.
Ngày 8/8/2026, tại Nha Trang, Hội Dinh dưỡng Việt Nam phối hợp cùng Viện Pasteur Nha trang và Hội Quân dân Y đã tổ chức Hội thảo khoa học Dinh dưỡng lâm sàng và Tiết chế khu vực miền Trung và Tây Nguyên 2026 với chủ đề “Dinh dưỡng hợp lý với bệnh nhiễm trùng” với sự tham gia của hơn 150 nhà khoa học, các giáo sư, tiến sỹ, bác sỹ chuyên ngành dinh dưỡng, ngành truyền nhiễm, đại diện cơ sở đào tạo y học, các bệnh viện khu vực miền Trung và Tây Nguyê
Xì hơi là một phần bình thường của quá trình tiêu hóa. Hầu hết các trường hợp xì hơi thường xuyên đều liên quan đến thức ăn hoặc thói quen ăn uống. Nhưng nếu tần suất xì hơi đột nhiên thay đổi hoặc đi kèm với các triệu chứng khác, đó có thể là dấu hiệu của một vấn đề tiêu hóa tiềm ẩn.
Đạm Whey thường được sử dụng phổ biến với những người đang tập thể hình hoặc những người muốn xây dựng cơ bắp. Tuy nhiên một số nhà sản xuất đã trộn lẫn thêm glycocorticoid để lừa gạt người tiêu dùng và gây hại cho cơ thể. Cùng tìm hiểu những tác hại chính và cách tránh mua phải loại đạm này qua bài viết sau!