Đổ mồ hôi thực sự đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và sắc đẹp. Làn da của bạn là cơ quan lớn nhất trên cơ thể, và đóng một vai trò quan trọng giống như bất kỳ cơ quan khác của cơ thể.
Ví dụ, đổ mồ hôi giúp cơ thể của bạn: duy trì nhiệt độ thích hợp và giữ cho bạn không bị quá nóng; thải độc tố, hỗ trợ tốt chức năng miễn dịch và giúp ngăn ngừa các bệnh liên quan đến tình trạng quá tải độc chất; diệt một số loại virút và vi khuẩn; làm sạch các lỗ chân lông, điều này sẽ giúp loại bỏ mụn đầu đen và mụn trứng cá.
Đổ mồ hôi được điều khiển bởi hệ thống thần kinh tự động, mà bạn không thể tự kiểm soát. Tuy nhiên, một số cảm xúc nhất định, chẳng hạn như: lo lắng, giận dữ, bối rối, hoặc sợ hãi, có thể khiến bạn đổ mồ hôi nhiều.
Dấu hiệu ra mồ hôi bệnh lý
Tuy nhiên, bạn ra nhiều mồ hôi nhiều hơn người khác? Chỉ cần chạy bộ trên máy mới 5 phút, bạn đã ướt mướt? Bạn phải lâu tay trước khi bắt tay ai đó?... Đó là một trong nhiều biểu hiện bạn bị đổ mồ hôi nặng, là dấu hiệu của một tình trạng bệnh lý.
Đổ mồ hôi “cục bộ” không phải là một bệnh lý, ảnh hưởng đến một phần của cơ thể: nách, háng, đầu, mặt, tay hoặc chân; và thường có biểu hiện đối xứng.
Hiện nay, các chuyên gia cũng chưa xác định rõ nguyên nhân, tuy nhiên, có thể do một “sự cố nhỏ” trong hệ thống thần kinh và có tiền sử gia đình. Đổ mồ hôi quá nhiều như vậy cũng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khiến bệnh nhân bị giới hạn trong giao tiếp.
Một hiện tượng đổ mồ hôi toàn thân “thứ phát” ít phổ biến hơn thường do các bệnh khác gây ra, đặc biệt là đổ mồ hôi về đêm. Theo PGS.TS.BS. Nguyễn Hoài Nam - Chủ tịch Hội Tĩnh mạch học TP.HCM - ở trẻ con ra mồ hôi trộm có thể do nhiều nguyên nhân như: cường giao cảm, suy dinh dưỡng, thiếu canxi, sốt không rõ nguyên nhân...
Còn ở người lớn, những bệnh hay gây tăng tiết mồ hôi là bệnh rối loạn thần kinh thực vật, cường hệ thống giao cảm, béo phì, gầy suy dinh dưỡng, các bệnh truyền nhiễm như: bệnh lao, ung thư (như bệnh bạch cầu và u lympho), đái tháo đường, mãn kinh, mang thai, nghiện rượu, bệnh Parkinson, viêm khớp dạng thấp, đột quỵ, suy tim, đặc biệt là cường giáp... Lạm dụng một số thuốc cũng có thể gây ra đổ mồ hôi thứ phát, bao gồm: một số loại thuốc hướng tâm thần, thuốc điều trị huyết áp hay bổ sung vi chất.
“Đối với hội chứng cường giáp, do sự gia tăng của các loại hoóc-môn tuyến giáp như: T3, T4 trong máu. Chúng làm gia tăng tốc độ chuyển hóa cơ bản của cơ thể làm gia tăng nhịp tim, gia tăng chuyển hóa của các tế bào làm tăng nhiệt độ của cơ thể và nhu cầu thải các chất độc là sản phẩm của quá trình hoạt động của tế bào. Do đó làm gia tăng mức bài tiết mồ hôi, “BS. Hoài Nam giải thích.
Bạn cần đi khám ngay khi: ra mồ hôi nhiều vào ban đêm (sáng ngủ dậy, bạn thấy áo gối hoặc chỗ nằm còn ẩm); vã mồ hôi toàn thân không chỉ riêng nách, háng, lòng bàn tay, bàn chân, hoặc chỉ đổ mồ hôi ở một bên cơ thể; đột ngột ra nhiều mồ hôi; đổ mồ hôi kèm theo các triệu chứng khác, như mệt mỏi, mất ngủ, khát nước, đi tiểu nhiều, hoặc ho…
Thậm chí, khi mồ hôi ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, bạn cũng nên đi khám bác sĩ, và đừng quên cầm theo các loại thuốc hay thực phẩm bổ sung bạn đang uống để bác sĩ kiểm tra và cho bạn làm các xét nghiệm chuyên khoa.
BS. Hoài Nam khuyến cáo, chẩn đoán nguyên nhân tăng tiết mồ hôi khá phức tạp cần phải có sự khám bệnh kỹ càng của bác sĩ có trình độ chuyên môn mặc dù có một vài triệu chứng gợi ý nhưng phần lớn là chung chung và không có giá trị thật sự.
Bên cạnh đó, việc điều trị tăng tiết mồ hôi đòi hỏi bệnh nhân phải kiên trì lâu dài và điều trị căn bệnh gây tăng tiết mồ hôi như: hạn chế béo phì, hạn chế suy dinh dưỡng, điều trị rối loạn thần kinh thực vật, điều trị lao, đái tháo đường... Các yếu tố có thể thay đổi để phòng ngừa tăng tiết mồ hôi bằng cách giảm cân nặng để tránh béo phì, làm việc và sống trong môi trường không quá nóng, tránh các bệnh gây nên tăng tiết mồ hôi.
Một nghiên cứu mới công bố cho thấy chỉ cần ngửi mùi socola đen trước và trong khi tập luyện cũng có thể giúp cải thiện hiệu suất tập gym, đồng thời làm giảm cảm giác đói bụng sau buổi tập.
Sau một ngày dài tất bật với công việc cơ quan và chăm lo cho con cái, khoảng thời gian tĩnh lặng lúc đêm muộn thường là lúc các bậc phụ huynh mới thực sự có giây phút thư giãn cho riêng mình. Đi cùng với một bộ phim hay hay những trang mạng xã hội thường là thói quen nhâm nhi một bát mì nóng hổi, một chút bánh kẹo ngọt hay những món đồ ăn vặt còn sót lại trong tủ lạnh. Sự chiều chuộng bản thân này tưởng chừng như vô hại và giúp giải tỏa căng thẳng rất tốt, nhưng thực chất lại đang âm thầm tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể. Việc thường xuyên nạp thức ăn vào thời điểm cơ thể cần nghỉ ngơi sẽ phá vỡ nhịp độ tự nhiên, kéo theo hàng loạt rủi ro về bệnh lý và làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta.
Mùa thu đông là thời điểm dễ bùng phát các bệnh truyền nhiễm do virus, đặc biệt là sởi và Rubella – hai căn bệnh có khả năng lây lan nhanh và gây biến chứng nguy hiểm, nhất là ở trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai. Dù đã có vaccine phòng ngừa hiệu quả, song sự chủ quan và thiếu tiêm chủng đầy đủ khiến nguy cơ dịch bệnh vẫn luôn hiện hữu. Việc hiểu rõ đặc điểm, triệu chứng và cách phòng tránh sởi, Rubella là chìa khóa để bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh.
Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.
Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.
Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.
Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.