Với các bạn thanh thiếu niên, những kì thi là một trong những điều căng thẳng nhất phải trải qua, đặc biệt là những kỳ thi rất quan trọng như thi chuyển cấp, thi tốt nghiệp, thi vào đại học. Áp lực về khối lượng lớn kiến thức phải tích lũy, ôn luyện, những kết quả, những cái đích cần phải đạt đến làm bạn căng như dây đàn, cả thể chất và tinh thần dường như thật khó kiểm soát.
Đó chính là “stress”. Vậy, chính xác thì stress là gì?
Nhận biết stress
Stress là một trạng thái của cơ thể để đối phó lại những áp lực từ bên ngoài. Những dấu hiệu giúp bạn nhận diện được stress, bao gồm:
Những dấu hiệu về thể chất
Dấu hiệu về tinh thần, cảm xúc
Thay đổi cách cư xử, sinh hoạt thường ngày
Điều gì gây ra stress?
Rất khó để nhận định đâu là nguyên nhân đích thực gây ra stress. Vì thực ra, stress hình thành từ rất nhiều yếu tố trong cuộc sống, công việc, môi trường xung quanh và chính những gì đang diễn ra bên trong bạn.
Khi cơ thể bạn cảm thấy bị đe dọa bởi thứ gì đó có thể làm hại, cơ thể sẽ phải ứng lại một cách rất tự nhiên với nguồn năng lượng rất lớn để có thể sống sót trước tình huống nguy hiểm hay trốn thoát khỏi nguy hiểm đó. Đó là lý do tại sao những thứ xung quanh như tiếng ồn, đám đông và áp lực từ công việc hay gia đình có thể làm bạn căng thẳng.
Stress xảy ra khi bạn lo lắng về một điều mình không làm được hoặc thậm chí lo lắng mà chẳng có lý do nào cả. Những dự tính quá nhiều và không thực tế cũng có thể gây stress. Những loại stress như vậy được gây ra bởi làm việc quá sức ở cơ quan, ở trường hoặc ở nhà. Và cũng có thể là bởi bạn không biết quản lý thời gian tốt, không dành thời gian cho việc nghỉ ngơi và thư giãn một cách hợp lý.
Với các bạn học sinh, sinh viên, áp lực từ thi cử chính là nguyên nhân hàng đầu gây nên stress. Quá kỳ vọng vào những gì bản thân bạn mong muốn hay cố gắng thực hiện những mong muốn của cha mẹ sẽ khiến bạn bị ảnh hưởng của stress nhiều hơn. Vùi đầu vào ôn luyện để mong làm giảm bớt stress nhưng việc ôn luyện quá mức sẽ làm cơ thể và trí não bạn đuối sức và kết quả là stress càng nhiều hơn. Bởi vậy, lời khuyên của chuyên gia cho bạn là, hãy dành cho mình những khoảng nghỉ, thư giãn dù rất ngắn ngủi giữa các đợt học tập, bạn sẽ thấy giảm stress rất nhiều.
![]()
Stress có nghĩa là xấu?
Câu trả lời là KHÔNG. Có những stress tích cực và stress tiêu cực và ngay cả trong mỗi stress cũng có mặt tích cực và mặt tiêu cực.
Tích cực
Tiêu cực
Như vậy, stress ở một lượng vừa phải là tích cực vì khi đó nó có tác dụng như một liều "doping" giúp bạn hưng phấn hơn, vững bước hơn, phản ứng nhanh hơn và sẵn sàng đối mặt với thử thách.
Stress mạnh hay quá lâu thì ngược lại, sẽ khiến bạn cảm thấy thất vọng, kéo bạn vào cảm xúc tiêu cực, làm bạn kiệt sức và mất đi phản ứng nhanh nhậy để giải quyết vấn đề. Về mặt thể chất, có thể gây suy giảm miễn dịch của cơ thể, làm bạn dễ mắc bệnh hoặc ốm yếu hơn.
Làm sao để đối mặt với stress tiêu cực?
Điều cốt yếu để đối mặt với những tác động tiêu cực của stress là hãy làm cho stress đó nhẹ bớt hơn, ngắn hơn. Nghe có vẻ đơn giản nhưng sự thực không phải như vậy.
Điều bạn cần luôn ghi nhớ và thực hiện hàng ngày, không chờ đến khi stress mới làm, là: Hãy lập kế hoạch cho mỗi hoạt động của mình:
Từ những gợi ý ngắn gọn trên đây, bạn hãy biến điều đó thành của riêng mình. Và khi bận rộn vào việc xây dựng một kế hoạch hạn chế stress của riêng mình, bạn sẽ không có thời gian để nhận ra stress đã biến đi lúc nào mất rồi!
Có thể bạn không còn nhiều thời gian cho kỳ thi sắp đến, nhưng hãy thử làm một kế hoạch nho nhỏ cho mấy ngày cuối cùng trước khi "ra trận". Hãy thực hiện kế hoạch đó bằng tất cả những gì bạn có. Và đừng quên, chia sẻ lại với chúng tôi những kết quả mình đã làm được nhé. Đảm bảo rằng, bạn sẽ gia nhập vào nhóm của chúng tôi ngay!
Chúc bạn một kỳ thi tốt nhất từng có!
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Ăn sôcôla giúp giảm stress và khống chế cảm giác lo âu
Các bệnh nhân ung thư trường gặp nhiều vấn đề sức khỏe hơn trong mùa đông so với người khỏe mạnh. Họ đặc biệt dễ mắc các bệnh virus và cảm lạnh. Do đó, những người mắc bệnh ung thư cần phải đặc biệt cẩn thận trong mùa đông để đảm bảo sức khỏe cho bản thân.
Một ly sữa ấm vào buổi tối giúp trẻ ngủ ngon và phát triển chiều cao tốt hơn nhờ nguồn canxi dồi dào. Tuy nhiên, thói quen này lại là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng răng bị mủn do hỏng men răng nếu phụ huynh không thực hiện vệ sinh răng miệng đúng cách cho trẻ.
Thời tiết chuyển mùa là nguyên nhân khiến nhiều người, nhất là người cao tuổi bị đau khớp. Những thay đổi này không chỉ gây khó chịu mà còn làm các bệnh viêm khớp trở nên nghiêm trọng hơn. Để giảm đau và cải thiện chất lượng cuộc sống, việc hiểu rõ cơ chế tác động của thời tiết và áp dụng các biện pháp chăm sóc phù hợp là rất cần thiết. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích nguyên nhân gây đau khớp và đưa ra các giải pháp thực tế để bảo vệ xương khớp.
Ăn ít rau và hoa quả được xem là nguyên nhân của 1,7 triệu trường hợp tử vong, chiếm 2,8% tổng số tử vong trên thế giới. Hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có và gần 100% nguồn vitamin C được cung cấp từ rau quả.
Đau tim có thể xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông do một số yếu tố liên quan đến thời tiết lạnh. Các mạch máu có thể co lại, làm tăng huyết áp và khiến tim phải làm việc vất vả hơn để bơm máu. Điều này có thể làm tăng nguy cơ đau tim, đặc biệt đối với những người có bệnh tim từ trước. Hãy cũng tìm hiểu các vấn đề về tim mạch thường gặp trong mùa đông.
Rượu thường được sử dụng trong các dịp thư giãn, ăn mừng hay gắn kết xã hội. Tuy nhiên, đằng sau tính hợp pháp và sự chấp nhận rộng rãi, cần nhìn nhận rõ bản chất của rượu: một chất tác động thần kinh mạnh với ảnh hưởng đa dạng lên cơ thể con người. Dù trong nhiều trường hợp được sử dụng có kiểm soát, việc uống rượu vẫn tiềm ẩn nguy cơ lớn đối với sức khỏe, từ những rối loạn tạm thời về chức năng đến các bệnh lý mạn tính nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.
Cải xoong là loại rau mùa đông, tuy nhiên, ít ai biết rằng loại rau này lại được mệnh danh là một 'siêu thực phẩm'. Vậy thực sự cải xoong có tác dụng gì?
Viêm tủy xương là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính hoặc mạn tính ở xương, bao gồm tủy xương và các mô mềm xung quanh. Bệnh thường do các loại vi khuẩn như tụ cầu vàng hoặc liên cầu gây ra. Những vi khuẩn này xâm nhập vào xương thông qua đường máu, sau khi cơ thể bị một trong các tình trạng nhiễm khuẩn tại một vùng nào đó.